Đặt vấn đề Theo số liệu thống kê của Hội nuôi ong Việt Nam (2020), ước tính hiện nay nước ta có hơn 1,2 triệu đàn ong với số người nuôi ong khoảng 30. Mỗi năm, Việt Nam sản xuất được hơn 55.000 tấn mật ong và hơn 1.000 tấn sáp ong, trong đó có khoảng 85- 90% sản lượng mật và sáp ong được xuất khẩu. Nguyễn Thanh Sơn, Viện trưởng Viện Chăn nuôi Quốc gia, ở Việt Nam nghề nuôi ong đã và đang góp phan đáng ké vào việt tao sinh kế và cải thiện đời sống người dân và góp phan nâng cao kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Điều kiện khí hậu nhiệt đới của Việt Nam thuận lợi cho hệ sinh thái thực vật và sự phát triển của ngành chăn nuôi ong.
Vùng sản xuất mật ong tập trung ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc. Cây nguồn mật chính là cao su, tràm, cà phê, điều, vải, nhãn, keo, bạch đàn, bạc hà. Tiền Giang là một tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long, là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm ở phía Nam. Với lợi thế được thiên nhiên ưu đãi (địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu ôn hòa) cùng nguồn lao động dồi dào, ngành nông nghiệp nơi đây phát triển rất mạnh mẽ nên có điện tích vườn trái cây rộng lớn cùng thảm thực vật đồi dao và phong phú đã tạo ra điều kiện thuận lợi giúp cho ngành nghề nuôi ong phát triển nhanh chóng.
Bên cạnh thu lấy mật ong thì người ta còn chú trọng đến một sản phâm phụ rất được ưa chuộng hiện nay đó là sáp ong. Sap ong (beeswax) được loài ong mật thuộc giống Apis mellifera (giéng ong Y) tạo ra để làm tổ, sản xuất mật và sinh sản. Sáp ong là một khối, có nhiều lỗ nhỏ, được xây thành từ nhiều loại thực vật khác nhau do những con ong thu lượm về. Nó có công dụng trong rất nhiều lĩnh vực như công nghiệp, dược phẩm, y học và được rất nhiều người ưa thích bởi nguồn gốc thiên nhiên cũng như những lợi ích mà nó mang lại.
Hiện nay, tỉnh Tiền Giang có rất nhiều tiềm năng phát triển ngành nuôi ong nên quy mô các trại ong ngày càng mở rộng, ngành khai thác sáp ong cũng phát triển hơn. Tuy nhiên, quy trình sơ chê sáp ong cô điên vẫn còn chưa thật sự hiệu quả bởi vân đê 1 chỉ phí nhiên liệu dùng đề nấu sáp cũng như chất lượng sáp thu được chưa tốt. Chính vì thế, dé tối đa hiệu quả kinh tế cũng như chất lượng sản phẩm, cần một quy trình sơ chế sáp ong cải tiến để đạt được hiệu quả tốt nhất và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chế biến, ứng dung sáp ong dé dang hơn. Được sự phân công của Bộ môn Công nghệ Hóa Học, dưới sự hướng dẫn của ThS.
Trần Đình Hương và TS. Lê Minh Hoàng, tôi thực hiện đề tài “Khảo sát quy trình sơ chế sáp ong (beeswax) tại tỉnh Tiền Giang bằng năng lượng Mặt Trời”. Mục tiêu đề tài - Xây dựng được quy trình sơ chế sáp ong thu hoạch ở tinh Tiền Giang bang năng lượng Mặt Trời có hiệu quả cao nhất. - Xác định chất lượng của sáp ong sau khi sơ chế.
Nội dung đề tài - Nội dung 1: Khao sát các chi tiêu của sap ong thô (sáp ong nguyên liệu). - Nội dung 2: Khảo sat các yếu tô ảnh hưởng đến quy trình sơ chế sáp ong. - Nội dung 3: Đánh giá chat lượng sản phẩm sáp ong thu được. Đối tượng nghiên cứu - Sap ong (beeswax).
Pham vi nghiên cứu - Xác định các yếu tô ảnh hưởng đến việc sơ chế sáp ong bang năng lượng mặt trời theo quy mô phòng thí nghiệm. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu gop phan cung cấp các dữ kiện về các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình sơ chế sáp ong dùng phương pháp năng lượng mặt trời, làm cơ sở dữ liệu cho các ngiên cứu tiếp theo đối với sáp ong tại tỉnh Tiền Giang cũng như ở Việt Nam. - Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của đề tài nay có thé được ứng dụng vào các quy trình sơ chê sáp ong tại các trại và các hộ người dân nuôi ong. Chương 2 TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Tống quan về sap ong 2. Sáp ong Sáp ong (beeswax) của là một sản phẩm tự nhiên được tiết ra nhờ tuyến sáp của những con ong thợ thuộc giống ong mật chi Apis ở giai đoạn 12- 18 ngày tuổi tiết ra. Sáp ong thô và sáp ong thành phẩm Những con ong thợ sẽ sử dụng mật ong (cần 6-8 pound mật ong dé tạo ra 1 pound sáp), khiến các tuyến sản xuất sáp đặc biệt biến đôi đường thành sáp và được day ra qua các lỗ nhỏ. Lúc này, sáp xuất hiện dưới dang vảy nhỏ trên bụng ong và trong suốt.
Theo nghiên cứu của Bogdanov (2016), vay sáp có kích thước khoảng 3mm và dày 1mm (cần khoảng 1100 vảy sáp để tạo được 1g sáp).[3] Sau đó, sáp được những con ong lay ra và nhai lại, các chất tiết nước bọt được thêm vào khiến cho sáp trở nên mềm hơn, điều này cũng giải thích cho sự thay đổi màu sắc của nó. Theo nghiên cứu của Hepburn và ctv (1991), màu của sáp ong ban đầu có màu trang, sau đó chuyền dan sang vàng đậm và nâu sau khoảng 4 năm vi nó chứa kén ong. [4] Loài ong sử dụng sáp ong dé xây dựng tổ theo từng lỗ có hình lục giác với nhiều chức năng khác nhau như chứa phấn hoa, mật ong, hay chỗ ở cho những con non,. Theo nghiên cứu của Bogdanov (2016), hoạt động sản xuất sáp và xây tổ phụ thuộc vào các yếu tố: lượng mật cần lưu trữ, lượng trứng ong, sự hiện điện của ong chúa, nhiệt độ.
Tình hình nuôi ong ở Việt Nam Theo thống kê của Hội nuôi ong Việt Nam năm 2021, Việt Nam có khoảng 1,5 triệu dan ong với 23,33% là đàn ong nội và 76,67% là dan ong ngoại. Hiện đang có khoảng 34.000 người nuôi ong, trong đó hộ nuôi ong chuyên nghiệp khoảng 6. Hang năm, có 85- 90% tổng sản lượng mật ong Việt Nam được xuất khâu. chủ yếu là xuất sang thị trường Mỹ (90- 95%), phần còn lại xuất sang châu Âu và tiêu thụ ở thị trường nội địa.
Nghề nuôi ong lấy mật ở nước ta trong thời gian vừa qua đang phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng. Ngày càng xuất hiện nhiều vùng nuôi ong chuyên nghiệp hơn và khai thác được nhiều sản phẩm từ ong hơn trước. Ở Việt Nam, những vùng tập trung nuôi nhiều ong lấy mật là miền núi trung du Bắc bộ (trên 442.000 đàn), Tây Nguyên (trên 361.000 đàn), vì đây là vùng sinh thái có khí hậu tốt và nguồn hoa phong phú. Tại đây, chính quyền các địa phương hiện đang tập trung đầu tư mạnh dé nghề nuôi ong sớm trở thành ngành nuôi ong mật hang hóa, qua đó góp phan làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho đồng bào các dan tộc trên địa bàn.
Tinh Dak Lắk là địa phương dẫn đầu cả nước về phong trào nuôi ong và xuất khẩu mật ong. Đây hiện cũng là địa phương có đàn ong nuôi và sản lượng mật làm ra nhiều nhất khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Bên cạnh các tỉnh ở khu vực miền Bắc, ngành nuôi ong cũng đang dần dần phát triển ở các tỉnh khu vực miền Trung và Nam. Theo nghiên cứu của Trần Đình Hương và ctv (2021), nghề nuôi ong tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đang rất phát triển, đem lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.
[28] Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long có số lượng đàn ong không cao, khoảng 35. Tuy nhiên, nơi đây với điều kiện đất đai màu mỡ, địa hình bằng phẳng cùng khí hậu nhiệt đới gid mùa, tao điều kiện thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp và trồng trọt. Đây là nguồn cung cap phan, mật hoa dồi dào, thúc đây ngành nuôi ong phát triển. Đặc biệt, tỉnh Tiền Giang là một tỉnh có nhiều ưu thé, điều kiện tự nhiên phù hợp và chính quyền nơi đây cũng đã quan tâm, thu hút rất nhiều đầu tư vào ngành nuôi ong ở đây.
Đặc tính hóa lý Sáp ong là hỗn hợp của nhiều loại ester tạo nên giữa rượu đơn chức và acit béo bậc cao cùng với rượu tự do và hydrocacbon no. Người ta thường chia sáp ong thành 2 loại với những đặc tính khác nhau là sáp ong phương Đông (Apis cerana- ACH) và sap ong phương Tây (Apis mellifera- AMH). Theo nghiên cứu của Zhang và ctv (2019), có sự khác biệt đáng kề về thành phan protein và thành phan hydrocarbon trong mật ong của 2 loài nay. [5] Mà mật ong là thành phan cấu tạo của sáp ong, dẫn đến sự khác nhau về các tính chất hóa lý của 2 loại sáp ong ACH và AMH.
Bên cạnh đó, mỗi loài ong lại có khu vực sống khác nhau nên thảm thực vật ( nguồn cung cấp phan va mat hoa) sé khac nhau va gây ra sự khác biệt về các đặc tính của sap. Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng, sáp ong là một loại vật liệu trơ, có độ dẻo cao ở nhiệt độ thường, có phạm vi nhiệt độ nóng chảy tương đối thấp từ 62 đến 64°C, khối lượng riêng tai 15°C từ 958 kg/m? đến 970 kg/m’, ty trọng ở 15 °C (59 °F) từ 0,958 đến 0,975.[6, 7] Theo nghiên cứu của Shkenderov va ctv (1983), khi làm nóng vật lý thì tinh chat của sáp ong sẽ thay đổi: ở 30- 35°C, nó ở trạng thái mềm dẻo; ở 46- 47°C cấu trúc vững chắc của sáp dần bị phá hủy; từ 60-70°C nó bắt đầu tan chảy; gia nhiệt 95- 105°C dẫn đến hình thành bọt bề mặt và đến 140°C, các thành phần đễ bay hơi nn bắt đầu thoát ra,.[3] Sap ong thiên nhiên dé vỡ khi gặp lạnh; kết dính chặt ở nhiệt độ thường: nứt gãy khi khô và có hình hột. Một số chỉ tiêu của sáp ong [27, 30] Chỉ tiêu Dược điển châu Âu Dược điển Việt Nam Đặc điểm cảm quan: Màu sắc vàng đến vàng nâu vàng hoặc nâu sáng ¬- F tạo thành miếng mờ đục, Khi vỡ hạt mặn, cin, khong = dang hat,. không2 có dang két tinh tinh thé Mai mùi đặc trưng giông mùi đặc trưng giông như như mật ong mật ong Tính chất hóa lý: Điểm nóng chảy 61- 65°C 62- 65°C Tỉ trọng 0,95- 0,965 0,96- 0,966 Chỉ số acid 18- 23 17- 24 Chỉ số xà phòng hóa 87- 102 87-104 Chỉ số ester hóa 70- 90 Chỉ số peroxide >8 <5 Theo nghiên cứu của Bogdanov và ctv (2016), sáp ong không hòa tan trong nước và chịu được nhiều axit.