CHƯƠNG I QUY TRÌNH CẤP TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ TÍNH LÝ LUẬN 1.1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động kinh doanh cơ bản của ngân hàng thương mại Sự phát triển của hệ thống NHTM là một trong những tấm gương phản ánh sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Quá trình phát triển hệ thống NHTM Việt Nam cũng gắn liền với quá trình cải cách và phát triển kinh tế đất nước. Từ khi chuyển san nền kinh tế thị trường, hệ thống NHTM Việt Nam không ngừng đổi mới và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nước và hội nhập thế giới.Rose đã đưa ra khái niệm NHTM trên phương diện những loại dịch vụ mà nó cung cấp: “NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất định so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.Rose thì các hoạt động kinh doanh của NHTM cung cấp cho khách hàng là dịch vụ. Hay NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ.
Thực hiện toàn bộ hoạt ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động của ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên huy động vốn dưới hình thức gửi tiền và sử dụng số vốn đó để cho vay, đầu tư tài chính và cung cấp các hoạt động thanh toán của ngân hàng. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM thực hiện các hoạt động cơ bản sau: - Hoạt động huy động các nguồn vốn Huy động vốn là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chủ yếu từ nguồn vốn huy động, chiếm khoảng 70-80% trên tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM.
Đối với ngân hàng, vốn huy động là yếu tố quyết định hoạt động kinh doanh của mình, không giống như các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là hàng hóa để kinh doanh. NHTM nhận tiền gửi của các TCKT, cá nhân, các Luan van 7 TCTD khác hoặc phát hành các giấy tờ có giá (chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu), hoặc đi vay từ các TCTD, NHNN. Đây là cơ sở giúp phân biệt NH với các loại hình DN khác. - Hoạt động sử dụng vốn + Hoạt động cho vay: Đây là hoạt động NHTM sử dụng số vốn huy động được để thực hiện cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu của các KH khác nhau trong nền kinh tế như: nhu cầu vốn cho hoạt động SXKD, tiêu dùng, thực hiện các dự án đầu tư hoặc để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn trong thanh toán của các tổ chức kinh tế, cá nhân.
Khi thực hiện hoạt động này, NH phải đảm bảo thu hồi đủ vốn và lãi. Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã huy động được số tiền tạm thời chưa sử dụng của các chủ thể trong nền kinh tế và sử dụng số vốn đó để cho vay. Khi NH làm chức năng trung gian tín dụng, NH trở thành cầu nối quan hệ pháp lý giữa người cho vay và người đi vay. Hoạt động này chịu sự kiểm soát của NHNN.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động của NHTM không chỉ dùng lại ở việc thực hiện hoạt động tín dụng truyền thống cơ bản, mà còn cung cấp các hoạt động dịch vụ khác. + Hoạt động đầu tư: NHTM sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình đầu tư kiếm lời. NHTM có thể đầu tư dưới các hình thức: tham gia góp vốn, liên doanh, thành lập các công ty nhằm thực hiện sản xuất sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ cho xã hội; đầu tư tài chính; và các hoạt động khác như: cho thuê tài chính; đóng vai trò môi giới; ủy thác; bảo lãnh; kinh doanh ngoại hối, vàng… *Mối quan hệ giữa huy đọng vốn và hoạt động cho vay của NHTM Hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của NHTM có mối quan hệ biện chứng với nhau. - Hoạt động huy động vốn làm nhiệm vụ tạo nguồn vốn để thực hiện hoạt động cho vay và đầu tư.
Do vậy nếu nghiệp vụ huy động không hiệu quả, tất yếu dẫn đến việc nguồn vốn bị thu hẹp và hoạt động cho vay và đầu tư giảm. - Hoạt động cho vay vốn có hiệu quả sẽ là động lực mở rộng, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn. Đây chính là tiêu chuẩn cuối cùng đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng. Luan van 8 Vậy NHTM cần có chiến lược đồng bộ trong huy động và cho vay vốn.
Huy động vốn của NHTM phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng vốn của NH. Quy mô vốn huy động tăng hay giảm lại phụ thuộc vào phương hướng, chiến lược kinh doanh của NH trong từng thời kỳ nhất định. Mỗi NH đều xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh cụ thể, dựa trên việc xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống NHTM, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đồng thời dự đoán được sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai. - Hoạt động thanh toán NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán giữa người gửi tiền và người vay vốn trong nền kinh tế.
Khi nền sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, thúc đẩy hoạt động thương mại, hoạt động thanh toán phát triển, nhất là hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong nước. Ngày nay hoạt động thương mại không chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia mà vượt ra khỏi biên giới thì hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng phát triển. Hoạt động thanh toán của NHTM là cơ sở phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của mỗi quốc gia. Thực hiện tốt hoạt động thanh toán sẽ tăng thu nhập cho NH sau hoạt động cho vay, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động vốn và sử dụng vốn của NHTM có hiệu quả,.
- Tham gia điều tiết chính sách tiền tệ của NHNN NH tham gia tích cực trên thị trường tiền tệ nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn, đảm bảo cân đối vốn trong kinh doanh và yêu cầu của NHNN. Đồng thời NHTM tham gia trên thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ dưới hình thức mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ. *Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh của NHTM - Hoạt động kinh doanh của NHTM phải đảm bảo lợi ích của KH và cho chính NHTM đó. - NHTM phải thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của mình.
*Hoạt động kinh doanh của NHTM có các đặc điểm sau: - Vốn vừa là phương tiện, là mục đích kinh doanh đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh của NHTM. Luan van 9 - NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác. Vốn tự có của NHTM chiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, nên việc kinh doanh của NHTM luôn gắn liền với rủi ro của KH và buộc phải chấp nhận quy luật đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. - Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực hoạt động và nhiều đối tượng KH khác nhau.
Vì vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DN, của dân cư, cũng nhu sự suy thoái hay tăng trưởng của nền kinh tế hoặc khủng hoảng tài chính của khu vực và thế giới. - Hoat động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro từ chính bản thân nội tại của NH và chịu sự tác động của các yếu tố bên ngoài. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh NH có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hình DN nào. - Các hoạt động kinh doanh của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và diễn ra liên tục theo thời gian.
- Hoạt động của NHTM vận hành theo cơ chế thị trường và chịu sự chỉ đạo của Ngân hàng trung ương thông qua chính sách tiền tệ và các văn bản pháp quy.2 Khái niệm tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế, tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Từ “tín dụng” có nguồn gốc từ tiếng Latinh và credtium có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm, dựa trên sự tin tưởng tín nhiệm đó sẽ thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất trong một thời gian nhất định. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế tất yếu xuất hiện quan hệ tín dụng giữa các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Sự luân chuyển dòng vốn giữa một bên cần vốn và một bên có vốn nhàn rồi đã xuất hiện quan hệ tín dụng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai. Giá trị (hàng hóa – tiền tệ) Người cho vay Người đi vay Giá trị (hàng hóa – tiền tệ) + lãi Người cho vay Người đi vay Luan van 10 Niềm tin mà người cho vay đặt ở người vay đó là sự hoàn trả đụng hạn cả vốn lẫn lãi, niềm tin đó thật sự trọn vẹn khi nào quá trình vận động ngược chiều một lượng giá trị tiền tệ từ người vay trở về người cho vay. Vậy ta có thể hiểu: Tín dụng là sự vận động của giá trị từ người cho vay sang người đi vay và sẽ quay về với người cho vay cả vốn và lãi trong kỳ hạn xác định. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị từ người sở hữu hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định sẽ quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Hay “Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định” Tóm lại: Tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế. trong đó chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác quyền sử dụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hóa hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thỏa thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.