Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Hoàng Long sở hữu diện tích tự nhiên 1515 km2 trải dài qua địa bàn 11 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc hai tỉnh Hòa Bình và Ninh Bình. Đây là một trong những khu vực có chế độ thủy văn phức tạp nhất vùng hạ lưu sông Hồng - Thái Bình do chịu tác động kép từ lũ quét thượng nguồn và hiện tượng ngập dềnh từ hạ lưu sông Đáy. Trước đây, phương án xây dựng hồ chứa nước Hưng Thi tại thượng lưu sông Bôi với cao trình thiết kế +27,0m được xem là công trình hạt nhân để cắt giảm đỉnh lũ cho hạ du theo Quyết định số 1805/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, theo Văn bản số 535/TTg-KTN của Thủ tướng Chính phủ, việc đầu tư dự án hồ Hưng Thi chính thức bị dừng lại do hiệu quả cắt lũ không đạt mục tiêu ban đầu, đồng thời phát sinh nhiều áp lực về di dân tái định cư và an ninh quốc phòng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là tái cấu trúc quy hoạch phòng chống lũ cho toàn bộ lưu vực sông Hoàng Long trong điều kiện không có dung tích phòng lũ của hồ chứa Hưng Thi. Mục tiêu cụ thể là ứng dụng công cụ mô hình toán hiện đại để xác định chính xác các chỉ tiêu thủy văn - thủy lực, đánh giá khả năng thoát lũ của lòng dẫn và đề xuất tổ hợp giải pháp công trình kết hợp phi công trình tối ưu. Nghiên cứu bao quát phạm vi không gian 1000 km2 thuộc tỉnh Hòa Bình (chiếm 66% diện tích lưu vực) và 515 km2 thuộc tỉnh Ninh Bình (chiếm 34% diện tích lưu vực) trong giai đoạn quy hoạch dài hạn. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi bảo vệ trực tiếp cho gần 70.000 cư dân vùng phân lũ, chậm lũ huyện Nho Quan và Gia Viễn, đồng thời tránh xáo trộn đời sống của hơn 8.200 người dân thuộc diện di dời lòng hồ Hưng Thi trước đây.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết thủy lực dòng hở một chiều không ổn định và lý thuyết quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh. Trọng tâm của khung lý thuyết là hệ phương trình Saint-Venant đầy đủ gồm phương trình liên tục và phương trình động lượng phi tuyến:

  • Phương trình liên tục: Mô tả sự bảo toàn khối lượng dòng chảy theo không gian dọc trục dòng dẫn và biến thiên theo thời gian.
  • Phương trình động lượng: Biểu diễn sự cân bằng giữa gia tốc dòng chảy, độ dốc mặt nước, lực ma sát đáy lòng dẫn thông qua hệ số nhám Manning và các lực tác động ngoại cảnh.

Các khái niệm cốt lõi được vận hành trong nghiên cứu gồm: Tần suất lũ thiết kế P = 1% (chu kỳ lặp 100 năm một lần), đường quá trình lũ lũy tích, lưu lượng gia nhập khu giữa, năng lực xả lũ mặt cắt tự nhiên, và cơ chế vận hành vùng phân - chậm lũ. Mô hình toán thủy lực MIKE 11 do Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) phát triển được lựa chọn làm công cụ mô phỏng chính nhờ module thủy động lực học MIKE 11 HD có khả năng giải số học hệ phương trình Saint-Venant theo sơ đồ sai phân hữu hạn 6 điểm Abbott-Ionescu, cho phép mô phỏng chính xác mạng lưới sông phân nhánh phức tạp và các công trình điều tiết dòng chảy như cống tiêu, đập tràn, âu thuyền.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ chuỗi số liệu quan trắc khí tượng - thủy văn đồng bộ liên tục hơn 50 năm (từ năm 1960 đến thời điểm nghiên cứu). Hệ thống trạm quan trắc gồm 8 trạm thủy văn chủ lực (Bến Đế, Hưng Thi, Gián Khẩu, Ba Thá, Phủ Lý, Ninh Bình, Độc Bộ, Như Tân) và 9 trạm đo mưa đại diện (Kim Bôi, Nho Quan, Chi Nê, Đồng Giao, Rịa, Gia Viễn, Hòa Bình, Phủ Lý, Cúc Phương). Phương pháp chọn mẫu tập trung vào chuỗi số liệu mưa cực trị 1, 3, 5, 7 ngày lớn nhất và các trận lũ lịch sử điển hình năm 1971, 1985, 1996, 2002, 2008 nhằm đảm bảo tính chuẩn xác cho các phân tích thống kê xác suất theo hàm phân phối Pearson III.

Lý do lựa chọn phương pháp mô hình hóa MIKE 11 kết hợp công nghệ viễn thám và GIS là vì lưu vực sông Hoàng Long có địa hình chia cắt mạnh, độ dốc đáy sông lớn ở thượng nguồn (trung bình 9,6‰) và chịu ảnh hưởng triều mạnh ở hạ lưu. Mô hình đảm bảo tính ổn định số học cao nhờ thỏa mãn tiêu chuẩn số Courant Cr từ 10 đến 15 và tiêu chuẩn bước lưới thời gian từ 10 đến 30 phút. Quá trình nghiên cứu thực hiện hiệu chỉnh mô hình với tài liệu lũ thực đo năm 1996, kiểm định tham số nhám với trận lũ năm 2002 và xác nhận lại độ tin cậy mô hình thông qua tổ hợp lũ năm 2008 trên toàn bộ hệ thống sông Hồng - sông Đáy - sông Hoàng Long.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, trong kịch bản không xây dựng hồ chứa Hưng Thi, trận lũ thiết kế tần suất 1% (mô hình lũ năm 1985) hình thành mực nước đỉnh lũ tại trạm Bến Đế đạt cao trình 6,51m, vượt mức báo động III và gây áp lực tràn vỡ nghiêm trọng lên toàn bộ tuyến đê tả và đê hữu sông Hoàng Long nếu không vận hành hệ thống phân lũ hỗ trợ.

Thứ hai, số liệu thống kê khí tượng cực trị chỉ ra lượng mưa 7 ngày lớn nhất trong đợt mưa tháng 9 năm 1985 tại trạm Hưng Thi đạt tới 941,4mm và tại Nho Quan đạt 824,5mm. Lượng mưa cực lớn này tạo ra lượng dòng chảy mặt khổng lồ với lưu lượng đỉnh gia nhập khu giữa tăng thêm từ 35% đến 42% so với điều kiện dòng chảy thông thường, làm giảm đáng kể thời gian tập trung dòng chảy về dòng chính sông Hoàng Long.

Thứ ba, sự tương tác thủy lực giữa sông Hoàng Long và sông Đáy tại vị trí hợp lưu Gián Khẩu tạo ra hiện tượng dềnh nước từ 0,35m đến 0,60m. Điều này xảy ra do mực nước sông Đáy dâng cao khi tiếp nhận lưu lượng chuyển nước từ sông Hồng qua sông Đào Nam Định với lưu lượng đỉnh có thể lên đến 6700 m3/s, làm tê liệt khả năng tự chảy thoát lũ của hạ lưu Hoàng Long ra biển.

Thứ tư, kết quả mô phỏng thủy lực chứng minh khu chứa lũ Đầm Cút và vùng xả lũ Lạc Khoái đóng vai trò điều tiết sống còn. Khi mở cống Mai Phương và cống Địch Lộng để chủ động phân lũ vào Đầm Cút, lưu lượng đỉnh lũ trên dòng chính Hoàng Long được cắt giảm từ 15% đến 22%, giữ cho mực nước tại Bến Đế không vượt quá ngưỡng khống chế an toàn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng ngập lụt nghiêm trọng tại lưu vực Hoàng Long là sự kết hợp bất lợi giữa cấu trúc địa hình dốc đứng vùng núi Hòa Bình (độ cao bình quân trên 300m) và vùng đồng bằng trũng thấp Nho Quan - Gia Viễn (cao trình mặt đất chỉ từ 10m đến 12m). Việc hủy bỏ hồ chứa Hưng Thi đồng nghĩa với việc mất đi dung tích phòng lũ hàng trăm triệu m3 ở thượng nguồn, buộc toàn bộ áp lực tiêu thoát lũ phải dồn xuống các trục sông nội đồng và hệ thống công trình hạ du.

Dữ liệu tính toán trong luận văn được hệ thống hóa rõ ràng thông qua bảng tổng hợp mực nước lớn nhất, lưu lượng đỉnh lũ thiết kế 1% tại các mặt cắt đặc trưng và các biểu đồ diễn biến quá trình phân lũ theo thời gian thực (H~t, Q~t). Biểu đồ so sánh đường mực nước dọc sông cho thấy rõ độ dốc mặt nước giảm mạnh khi dòng chảy tiến sát khu vực Gián Khẩu, khẳng định tính chính xác của nhận định dềnh ứ hạ lưu.

So với các quy hoạch giai đoạn trước năm 2008 vốn phụ thuộc hoàn toàn vào giả định có hồ Hưng Thi, kết quả nghiên cứu này cung cấp lời giải khoa học thực tế: Việc thay thế hồ Hưng Thi bằng giải pháp mở rộng lòng dẫn, nâng cấp khẩu độ cống Địch Lộng và quy hoạch tối ưu hóa dung tích chứa lũ Đầm Cút hoàn toàn có thể đảm bảo tiêu chuẩn chống lũ thiết kế 1%, đồng thời tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng chi phí xây dựng công trình đầu mối và tái định cư.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng thủy lực và phân tích kinh tế - xã hội, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện quy hoạch phòng chống lũ sông Hoàng Long:

  1. Nâng cấp và kiên cố hóa 63,2 km hệ thống đê sông chính gồm đê tả Hoàng Long, đê hữu Hoàng Long, đê Gia Tường - Đức Long và đê Năm Căn. Mục tiêu đảm bảo cao trình đỉnh đê an toàn trước mực nước lũ thiết kế Bến Đế 6,51m (tương ứng tần suất P = 1%), triển khai trong giai đoạn 2015-2018 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Bình chủ trì thực hiện.

  2. Cải tạo, nạo vét trục tiêu thoát lũ Đầm Cút và mở rộng khẩu độ cống Địch Lộng, cống Mai Phương kết hợp xây dựng kênh dẫn mới dẫn lũ ra sông Đáy. Giải pháp này giúp tăng năng lực xả lũ thêm 25% lưu lượng, hạ thấp mực nước lũ nội đồng từ 0,20m đến 0,35m, hoàn thành trước năm 2019 dưới sự quản lý của Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng Công trình Thủy lợi tỉnh Ninh Bình.

  3. Hiện đại hóa hệ thống quan trắc và cảnh báo lũ sớm bằng việc lắp đặt mạng lưới đo mưa tự động tại 26 xã huyện Kim Bôi và 13 xã huyện Lạc Thủy (Hòa Bình). Mục tiêu nâng cao độ chính xác của dự báo thủy văn và kéo dài thời gian cảnh báo sớm trước khi lũ về từ 12 đến 24 giờ, thực hiện trong giai đoạn 2016-2020 do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Đồng bằng Bắc Bộ phối hợp các địa phương triển khai.

  4. Quy hoạch lại không gian kinh tế - xã hội và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ vùng chậm lũ hữu Hoàng Long. Chủ động bố trí lịch thời vụ thu hoạch trước ngày 15 tháng 8 hàng năm, xây dựng chính sách hỗ trợ chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản thích ứng lũ và triển khai bảo hiểm rủi ro thiên tai cho gần 70.000 dân cư tại các huyện Nho Quan, Gia Viễn và Yên Thủy, thực hiện thường xuyên từ năm 2015 do Ủy ban Nhân dân hai tỉnh Ninh Bình và Hòa Bình chỉ đạo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và ban chỉ huy phòng chống thiên tai: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hai tỉnh Ninh Bình và Hòa Bình điều chỉnh quy hoạch tổng thể đê điều, xây dựng kịch bản vận hành hộ đê và phân lũ khẩn cấp trên lưu vực sông Hoàng Long - sông Đáy.

  2. Kỹ sư tư vấn thiết kế và quy hoạch thủy lợi: Là tài liệu kỹ thuật chuẩn xác về quy trình thiết lập, hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy lực MIKE 11 cho mạng lưới sông phân nhánh phức tạp, ứng dụng trực tiếp vào việc tính toán khẩu độ công trình cống tiêu, tràn phân lũ và nạo vét lòng dẫn thoát lũ.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn - Tài nguyên nước: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tính toán mưa lũ thiết kế cực trị, tương tác dòng chảy vùng hợp lưu sông đồng bằng - miền núi và cách tiếp cận quản lý rủi ro thiên tai tích hợp không phụ thuộc vào hồ chứa lớn.

  4. Doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và cộng đồng dân cư địa phương: Giúp các chủ đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, khu công nghiệp và người dân tại 11 huyện thị thuộc lưu vực nắm rõ bản đồ ngập lụt, ranh giới vùng chậm lũ để chủ động lựa chọn cao trình xây dựng công trình và phương án sản xuất an toàn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cấp có thẩm quyền quyết định không xây dựng hồ chứa nước Hưng Thi?

Theo Văn bản số 535/TTg-KTN của Thủ tướng Chính phủ, hồ chứa Hưng Thi ở cao trình +27,0m không đáp ứng mục tiêu cắt lũ ban đầu cho hạ lưu sông Hoàng Long. Đồng thời, việc hủy bỏ dự án giúp giải quyết các yêu cầu về củng cố quốc phòng an ninh và tránh việc phải di dân tái định cư phức tạp cho hơn 8.200 người dân huyện Lạc Thủy.

Mô hình MIKE 11 có ưu thế gì trong bài toán quy hoạch lũ sông Hoàng Long?

MIKE 11 giải số học hệ phương trình Saint-Venant một chiều, mô phỏng chuẩn xác mạng lưới sông phân nhánh có độ dốc đáy lớn 9,6‰ và vùng cửa sông ảnh hưởng triều. Mô hình tích hợp linh hoạt vận hành các công trình cống Mai Phương, cống Địch Lộng và khu chứa Đầm Cút, được kiểm định tin cậy qua các trận lũ lịch sử năm 1996, 2002 và 2008.

Mực nước lũ thiết kế tần suất 1% tại trạm Bến Đế được xác định là bao nhiêu?

Kết quả mô phỏng thủy lực với tổ hợp lũ thiết kế tần suất P = 1% (mô hình mưa lũ năm 1985) xác định mực nước đỉnh lũ lớn nhất tại trạm thủy văn Bến Đế đạt cao trình 6,51m. Đây là thông số kỹ thuật then chốt làm căn cứ thiết kế cao trình đỉnh đê phòng lũ cho toàn tuyến Hoàng Long.

Việc phân lũ vào khu Lạc Khoái và Đầm Cút tác động thế nào đến dân sinh?

Vùng phân lũ, chậm lũ hữu Hoàng Long gồm 12 xã thuộc hai huyện Nho Quan và Gia Viễn với gần 70.000 người dân sinh sống. Khi phân lũ, đời sống và sản xuất chịu ngập úng với chu kỳ 3 đến 5 năm một lần, đòi hỏi quy hoạch phải đi kèm chuyển đổi mùa vụ và nâng cấp hạ tầng dân sinh.

Giải pháp phi công trình nào mang tính đột phá nhất trong luận văn?

Đó là việc thiết lập hệ thống quan trắc mưa tự động và mô hình hóa dự báo dòng chảy thời gian thực trên lưu vực thượng nguồn sông Bôi (Hòa Bình). Giải pháp này giúp nâng thời gian cảnh báo sớm lên từ 12 đến 24 giờ, tạo điều kiện cho các địa phương chủ động sơ tán và vận hành công trình phân lũ.

Kết luận

  • Luận văn giải quyết thành công bài toán khoa học và thực tiễn về quy hoạch phòng chống lũ sông Hoàng Long khi không xây dựng hồ chứa nước Hưng Thi.
  • Thiết lập và kiểm định thành công bộ thông số mô hình thủy lực MIKE 11 chuẩn xác cho mạng lưới sông liên tỉnh với diện tích lưu vực 1515 km2.
  • Lượng hóa chính xác mực nước lũ thiết kế 1% tại trạm Bến Đế đạt 6,51m làm cơ sở kỹ thuật cốt lõi cho việc củng cố hệ thống đê điều.
  • Đề xuất đồng bộ gói giải pháp công trình cải tạo cống Mai Phương, cống Địch Lộng, nạo vét tuyến thoát lũ Đầm Cút kết hợp nâng cấp 63,2 km đê chính.
  • Hoàn thiện khung giải pháp phi công trình bảo vệ an sinh cho gần 70.000 dân cư vùng chậm lũ và ổn định phát triển cho hơn 8.200 người dân không phải di dời lòng hồ.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan ban ngành cần ưu tiên hoàn thiện quy chế phối hợp vận hành liên tỉnh Ninh Bình - Hòa Bình và đẩy mạnh lắp đặt thiết bị đo tự động trước mùa mưa bão. Kính mời các nhà khoa học, nhà quản lý và kỹ sư chuyên ngành tham khảo toàn văn luận văn để ứng dụng chi tiết các bảng số liệu thủy lực và sơ đồ quy hoạch vào thực tiễn địa phương.