Đặt vấn đề Cây xanh từ lâu đã đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống của con ngƣời. Là một bộ phận quan trọng của tự nhiên, có tác dụng trong việc cải tạo khí hậu, bảo vệ môi trƣờng,. Đối với đƣờng bộ nói chung và đƣờng quốc lộ riêng, cây xanh là một thành phần không thể thiếu trong quy hoạch, thiết kế và xây dựng của tuyến đƣờng và cũng là yếu tố quan trọng tạo nên chất lƣợng cảnh quan đƣờng bộ. Vùng ĐBSH có điều kiện khí hậu nhiệt đới rất thuận lợi cho việc phát triển cây xanh, lại có một quá trình phát triển KT-XH và lối sống hàng ngàn năm trong đó cây xanh góp một phần quan trọng.
ĐBSH giữ vai trò cửa ngõ phía bắc của Tổ quốc. Hệ thống giao thông hiện có nhƣ: mạng lƣới đƣờng bộ, đƣờng sông, đƣờng biển, đƣờng hàng không, đƣờng sắt, cảng biển, cảng hàng không quốc tế sân bay Nội Bài,. là những đầu mối nối liền giữa ĐBSH với các vùng kinh tế trong nƣớc và mở rộng quan hệ giao lƣu với các nƣớc trong khu vực và thế giới. Địa bàn ĐBSH lại “cận kề” với Trung Quốc (thị trƣờng to lớn của cả thế giới) và “cách không xa” các nƣớc vùng Đông - Bắc Á [65].
Ở vào vị trí địa lý thuận lợi và với đặc điểm phát triển, ĐBSH đang có tốc độ phát triển mạnh, đã, đang và sẽ là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao thông của cả nƣớc, là nơi giao lƣu quốc tế giữa nƣớc ta với các nƣớc trong vùng Đông Nam Á và thế giới. Cùng với sự phát triển vƣợt bậc về kinh tế thì môi trƣờng khu vực cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng đặc biệt là ô nhiễm không khí. Hiện nay, ô nhiễm không khí đã và đang trở thành vấn đề bức xúc trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt tại các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong số các chất gây ô nhiễm không khí nói chung, khí thải từ các phƣơng tiện cơ giới đƣờng bộ chiếm một tỷ trọng đáng kể.
Căn cứ vào lƣợng xăng và dầu diesel các phƣơng tiện cơ giới đƣờng bộ tiêu thụ hàng năm và lƣợng chất độc hại thải ra khi đốt cháy một tấn nhiên liệu có thể ƣớc tính đƣợc lƣợng chất độc hại thải ra môi trƣờng trong năm đó [29]. Theo thống kê và dự đoán của Bộ Công thƣơng nhu cầu năng lƣợng cuối cùng của ngành giao thông năm 2014 là 11.1 MTOE; dự báo năm 2020 là 16.0 MTOE và năm 2030 là 29.8 MTOE với dự báo tăng trƣởng trung bình từ 2014 – 2030 là 6. Do đó, việc kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng là việc hết sức cần thiết nhƣng phải duy trì cho đƣợc tốc độ phát triển xã hội. Trong công tác quản lý môi trƣờng, tùy theo từng chất gây ô nhiễm và trên cơ sở khía cạnh sinh thái, nhiều biện pháp khống chế cho cả 2 đầu vào và ra đối với các nguồn gây ô nhiễm đã và đang đƣợc sử dụng, trong đó có biện pháp trồng cây, phát triển hệ thống mảng xanh.
Những năm gần đây cùng với phƣơng hƣớng dần dần đổi mới thiết bị công nghệ và tăng cƣờng các biện pháp quản lý giám sát môi trƣờng, trong đó có số lƣợng và chất lƣợng cây xanh dọc các tuyến đƣờng, ít nhiều đƣợc chỉnh trang và phát triển. Nhờ đó, bƣớc đầu đã phát huy tác dụng về hiệu quả cảnh quan và ở chừng mực nào đó có ảnh hƣởng tích cực đối với môi trƣờng sinh thái dọc tuyến đƣờng. Tuy nhiên, về phƣơng diện này còn nhiều hạn chế bởi diện tích xanh dọc các tuyến đƣờng tuy có tăng, nhƣng mật độ lƣu thông phƣơng tiện cơ giới đƣờng bộ ngày càng cao, chất lƣợng đƣờng lại xuống cấp,. Hơn thế nữa, loài cây trồng vẫn còn nhiều hạn chế, không những về số lƣợng mà cả về chất lƣợng.
Thời gian qua nhiều loài cây trồng đã bộc lộ khá rõ nét sự không phù hợp với loại hình mảng xanh dọc các tuyến đƣờng [43]. Do đó, nghiên cứu các cơ sở khoa học môi trƣờng để làm luận cứ, góp phần phân bố lại diện tích xanh trên cơ sở tiềm năng đất đai có tính đến lịch sử phát triển của tuyến đƣờng và xác định tập đoàn cây trồng phù hợp cho một số tuyến đƣờng là cần thiết và cấp bách để vùng ĐBSH có thể đạt đƣợc một diện tích xanh tối thiểu với cơ cấu cây trồng phù hợp, góp phần cải thiện môi trƣờng sinh thái vốn đã bị ô nhiễm nặng nề bởi quá trình phát triển kinh tế. Đó là lý do hình thành đề tài “Xây dựng cơ sở khoa học môi trường cho định hướng quy hoạch cây xanh trên một số tuyến quốc lộ vùng đồng bằng sông Hồng”. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu hƣớng vào giải quyết một số mục tiêu cơ bản sau đây: - Nghiên cứu, đánh giá đƣợc thực trạng việc quy hoạch cây xanh trên một số tuyến QL vùng ĐBSH.
2 z - Đánh giá đƣợc mức độ phù hợp của một số loài cây xanh với điều kiện sinh thái môi trƣờng và tác động tích cực tới môi trƣờng của các dải cây xanh trên một số tuyến QL vùng ĐBSH. Trên cơ sở đó xác định cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp hợp lý cho định hƣớng quy hoạch cây xanh đối với các tuyến đƣờng QL. Những đóng góp mới của đề tài Lần đầu tiên đã điều tra, đánh giá tổng hợp đƣợc thực trạng thành phần loài, cấu trúc các dải cây xanh cũng nhƣ các đặc tính lý, hóa học lớp phủ thổ nhƣỡng, nƣớc mặt của các dải cây xanh và các khoảng trống có khả năng quy hoạch cây xanh ở một số tuyến QL chính vùng ĐBSH. Đã xây dựng đƣợc cơ sở khoa học cho định hƣớng quy hoạch cây xanh trên các tuyến QL chính vùng ĐBSH và đề xuất quy hoạch cây xanh cụ thể cho các đoạn QL 2 và đƣờng Võ Văn Kiệt đáp ứng mục tiêu an toàn giao thông, góp phần phát triển KT-XH và ổn định sinh thái môi trƣờng.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Xác định đƣợc vai trò và ý nghĩa quan trọng của cây xanh đối với phát triển giao thông, an toàn xã hội và bảo vệ môi trƣờng trên các tuyến đƣờng QL vùng ĐBSH. Góp phần vào quá trình bảo vệ và tôn tạo cảnh quan đƣờng bộ trong quá trình quy hoạch, thiết kế, xây dựng và nâng cấp sửa chữa các tuyến đƣờng QL. Đề xuất cơ sở khoa học môi trƣờng để nghiên cứu điều chỉnh một số chỉ tiêu trong quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn thiết kế về cây xanh của các tuyến QL vùng ĐBSH, có ý nghĩa thực tiễn để áp dụng cho công tác nghiên cứu lập, thẩm định quy hoạch xây dựng và quản lý cây xanh các tuyến đƣờng QL của ĐBSH trong thời gian tới; ứng dụng để xây dựng quy chế quy hoạch cây xanh các tuyến QL khác. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái lƣợc về hệ thống đƣờng quốc lộ vùng nghiên cứu 1. Hệ thống đường quốc lộ Định nghĩa: QL là đƣờng nối liền Thủ đô Hà Nội với các trung tâm hành chính cấp tỉnh; đƣờng nối liền trung tâm hành chính cấp tỉnh từ ba địa phƣơng trở lên; đƣờng nối liền từ cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế đến các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính trên đƣờng bộ; đƣờng có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, khu vực. Đƣờng đô thị là đƣờng trong phạm vi địa giới hành chính nội thành, nội thị (khoản a, mục 1, điều 39, Luật Giao thông đƣờng bộ số 23/2008/QH12). Về mặt quản lý: Thẩm quyền phân loại và điều chỉnh các hệ thống đƣờng bộ quy định nhƣ sau: Hệ thống QL do Bộ trƣởng Bộ Giao thông vận tải quyết định; Hệ thống đƣờng tỉnh, đƣờng đô thị do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi thỏa thuận với Bộ Giao thông vận tải (đối với đƣờng tỉnh) và thỏa thuận với Bộ Giao thông vận tải và Bộ Xây dựng (đối với đƣờng đô thị).
Nhƣ vậy, đƣờng QL khi chạy qua phạm vi địa giới hành chính nội thành nội thị thì theo luật nó vừa có tính chất của đƣờng QL lại vừa phù hợp với điều kiện của đƣờng đô thị. Tuy nhiên về mặt quản lý lại có sự phân công rõ ràng, hệ thống QL do Bộ Giao thông vận tải quản lý [47]. Mạng lưới đường bộ của Việt Nam Mạng lƣới đƣờng bộ bao gồm hệ thống quốc lộ với 21.100km, chiếm tỉ lệ 4%; đƣờng đô thị có 26.950km, chiếm 5%; đƣờng tỉnh 28.910km, chiếm 5,1%; đƣờng huyện 58.430km, chiếm 10%; đƣờng liên xã 144.670km, chiếm 25%; đƣờng thôn xóm, đƣờng trục nội đồng 289.790km, chiếm 51% và 741km đƣờng cao tốc. Trong những năm vừa qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đƣờng bộ có những bƣớc phát triển mạnh, theo hƣớng hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các công trình có tính kết nối, lan tỏa, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội; chất lƣợng vận tải đƣờng bộ ngày một nâng cao, bƣớc đầu góp phần thực hiện mục tiêu GTVT đi trƣớc một bƣớc trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nƣớc, góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh và bảo vệ Tổ quốc.
Hệ thống đường quốc lộ của vùng đồng bằng sông Hồng Sau hơn 20 năm kể từ khi nƣớc ta thực hiện công cuộc đổi mới, hệ thống giao thông đƣờng bộ thuộc vùng ĐBSH đã có sự phát triển rõ rệt. Mạng lƣới QL đã cơ bản đƣợc hình thành, gồm các trục QL hƣớng tâm kết nối Thủ đô Hà Nội. Vùng ĐBSH với các vùng, miền khác của đất nƣớc nhƣ QL1A, QL2, QL3, QL6, QL32 và đƣờng Hồ Chí Minh; các trục QL kết nối đến các cảng biển, cảng hàng không nhƣ QL5, QL18 và đƣờng Bắc Thăng Long - Nội Bài (đƣờng Võ Văn Kiệt); các trục QL kết nối nội vùng nhƣ QL10 và QL39. Các QL này sau khi đƣợc cải tạo, nâng cấp hoặc xây mới đều có chất lƣợng khá tốt.
Các tuyến QL có quy mô phổ biến là 2 làn xe, một số đoạn qua thành phố, thị xã đƣợc mở rộng lên 4 hoặc 6 làn xe [65]. Hiện trạng hệ thống đường bộ trên địa bàn vùng Đ SH Đơn vị: km Kết cấu mặt đƣờng Tổng Loại ê ê chiều Láng Cấp Đá Đường đƣờng tông tông xi Đất dài nhựa phối dăm khác nhựa măng Tổng 57.639 472 264 749 27 79 19 30 thị Đƣờng chuyên 3. Sự phát triển của đường quốc lộ là nhu cầu tất yếu của xã hội Đƣờng QL đƣợc coi là mạch máu liên lạc của bất kỳ đất nƣớc nào.