CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Tổng quan nghiên cứu Quy hoạch bảo vệ môi trường 1. Trên thế thế giới Quy hoạch môi trường là một lĩnh vực chuyên ngành trong khoa học môi trường, được xem là một công cụ quản lý, bảo vệ môi trường có hiệu quả.
Trên phạm vi toàn cầu, Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế đều có chung một mục tiêu theo đuổi là phát triển bền vững, thế nhưng trên thực tế, phát triển kinh tế ở các cấp độ khác nhau ở nhiều khu vực và nhiều quốc gia vẫn tiếp tục làm suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường. Để đảm bảo phát triển bền vững, các nhà lập quy hoạch và ra quyết định nhất thiết phải lồng ghép được các nhân tố xã hội, kinh tế, tài nguyên và môi trường ở mọi cấp độ lập quy hoạch (WCED, 1992) [72, 73]. Nhìn chung, tổng quan các công trình nghiên cứu về QHMT có thể tóm tắt thành 3 nhóm: - Giai đoạn khởi đầu lý thuyết về quy hoạch môi trường (QHMT) thực chất phát triển trên nền tảng quy hoạch cảnh quan, quy hoạch sinh thái, tập trung chủ yếu giải quyết vấn đề lồng ghép công tác quy hoạch kinh tế và môi trường: từ Le Play (1877), đến nhà quy hoạch người Scotlen - Sir Patrick Geddes và sau đó là người học trò của ông - Lewis Mumford người Mỹ và sau này là Ian McHarg, tác giả của “Thiết kế cùng tự nhiên” [116, 118]. Các công trình nghiên cứu về hoàn thiện lý thuyết quy hoạch môi trường sau đó được tiến tiến hành ở nhiều quốc gia với sự tham gia của nhiều nhà khoa học chuyên ngành khác nhau, đặc biệt là các nhà khoa học lĩnh vực kinh tế (John M.
Anh Edington (1977), Susan Buckingham - Hatfield & Bob Evans (1962), sinh thái học (Baldwin (1984), Anne Bee (1990); Richard L. Beer, Andrew Blowers (1993), Toner (1996), Alan Gilpin (1996). Có thể thấy rằng, ở giai đoạn đầu, hầu hết các trình nghiên cứu và các tác giả tập trung nghiên cứu hoàn thiện nội hàm, tiếp cận quy hoạch môi trường như một bước hoạt động trong quy hoạch phát triển của cấp quốc gia và cấp vùng. Thuật ngữ quy hoạch môi trường có thể hiểu rất rộng: là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện chính sách môi trường [108].
Khái niệm quy hoạch môi trường ở giai đoạn này thực chất được hiểu là việc lồng ghép việc quan tâm, đánh giá các vấn đề môi trường vào từng bước thực hiện hoạt động quy hoạch chuyên ngành khác. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giai đoạn 1960 đến đầu thập niên 80 của thế kỉ XX, cùng với sự xuất hiện Phong trào môi trường (Environmental Movement) ở Mỹ vào những năm 60, khi mà các quốc gia phát triển quan tâm hơn tới các vấn đề môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển. Trước hết, quy hoạch môi trường có thể hiểu rất rộng là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện chính sách môi trường (Susan Buckingham - Hatfield & Bob Evans, 1962) [121]. Tiếp cận sinh thái và tiếp cận tổng hợp trở thành những tiếp cận chủ đạo trong nghiên cứu QHMT với những yêu cầu cơ bản các bước phân tích rõ những vấn đề sinh thái biến đổi khi thực hiện các quy hoạch phát triển (John M.
Anh Edington, 1977); Những nội dung quan trọng của quy hoạch môi trường bao gồm làm rõ mối quan hệ với các quy hoạch khác như quy hoạch sử dụng đất, phát triển đô thị, công nghiệp, quy hoạch sử dụng nguồn nước [114, 121], quản lý chất tồn dư và kỹ thuật đánh giá tác động môi trường nhằm hướng dẫn, kiểm soát việc thu nhập, biến đổi, phân bố và đổ thải một cách phù hợp với các hoạt động của con người sao cho các quá trình tự nhiên, sinh thái và xã hội tổn thất một cách ít nhất (Ortolano Leonard, 1984; Baldwin, John H. Nhìn chung, mục tiêu QHMT được nhiều tác giả xác định đó là phân tích sâu giữa tác động môi trường và các yếu tố sinh thái (Anne Bee, 1990; Richard L.Meier,1990) đồng thời cũng chỉ rõ yêu cầu cơ bản phải kết hợp điều tra tổng hợp chất lượng môi trường, nghiên cứu phân vùng môi trường và quy hoạch bảo vệ môi trường (Chen Jingsheng,1986) từ đó hoạch định các giải pháp quản lý môi trường [71, 73, 75]. Các nghiên cứu QHMT ở giai đoạn này đi sâu phân tích các kỹ thuật quy hoạch hiện đại, đánh giá năng lực quản lý môi trường để làm rõ những vấn đề môi trường của quy hoạch phát triển KTXH giai đoạn trước. Một trong những hướng nghiên cứu chính ở giai đoạn này đó là hoàn thiện các phương pháp, phát triển những kỹ thuật dự báo tác động môi trường, xu hướng biến đổi tài nguyên trong xây dựng và thực hiện các quy hoạch phát triển.
Kết quả nghiên cứu của nhiều công trình đã chỉ ra việc cần thiết gắn kết các vấn đề môi trường, sinh thái vào các nội dung của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch sử dụng và chia sẻ nguồn nước, sử dụng các hệ sinh thái (Walter E. Westman,1985; Leonard Ortolano,1984; Anne Bee,1990; Richard L. - Giai đoạn từ 1980 đến nay, quy hoạch môi trường đã được quan tâm ứng dụng và dần trở thành một lĩnh vực chuyên ngành trong khoa học môi trường, được xem là một công cụ quản lý, bảo vệ môi trường có hiệu quả. Tiếp cận nghiên cứu quy hoạch môi trường giai đoạn này đã nhấn mạnh tiếp cận sinh thái: đặc điểm sinh thái của các khu vực cần được quy hoạch; khả năng chịu tải, dự báo xu hướng biển đổi của các hệ sinh thái trong nếu thực hiện các quy hoạch phát triển (Walter E.
Đặc 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt là nhấn mạnh việc thể chế hóa yêu cầu lồng ghép QHMT như một công cụ, một điều kiện tiên quyết trong thực hiện quy hoạch phát triển KTXH khác [71, 72, 126]. Trong giai đoạn này, nội dung QHMT đã được nghiên cứu hoàn thiện: thông qua các bước cơ bản nghiên cứu liên ngành về địa chất, cảnh quan, sinh học, thẩm mỹ môi trường, luật và chính sách môi trường, giải quyết các vấn đề về chất thải, đánh giá tác động môi trường, sử dụng đất (Leonard Ortolano,1984) [92, 118]; với mục tiêu nhằm hướng dẫn, kiểm soát việc thu nhập, biến đổi, phân bố và đổ thải một cách phù hợp với các hoạt động của con người sao cho các quá trình tự nhiên, sinh thái và xã hội tổn thất một cách ít nhất (Baldwin, John H, 1984). Tác giả Andrew Blowers (1993) đã đưa ra 10 vấn đề cho QHMT: (1) Sự thay đổi theo thời gian. (2) Quy hoạch nền, quy hoạch thành phố, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch bền vững cấp địa phương, dự báo tương lai cho quy hoạch.
(3) Các HST và TNTN (4) Chính sách năng lượng bền vững. (5) Ô nhiễm và rác thải - gánh nặng của bền vững. (6) Xây dựng một môi trường bền vững. (7) Lợi ích giữa giao thông vận tải công cộng và tư nhân.
(8) Kinh tế bền vững. (9) Quy hoạch khu vực thành phố bền vững. (10) Thực hiện quy hoạch. Cuốn “QHMT cho các cộng đồng nhỏ” của Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (1994) đã hướng dẫn QHMT cần tôn trọng quyền của nhân dân, của cộng đồng, nhu cầu của cộng đồng, giải quyết các nhu cầu đó cho cộng đồng.
Tác giả Toner (1996) cho rằng QHMT là việc ứng dụng các kiến thức về khoa học tự nhiên và sức khỏe trong các quyết định về sử dụng đất Theo định nghĩa của Alan Gilpin (1996) trong Từ điển vê môi trường và phát triển bền vững thì QHMT là “Sự xác định các mục tiêu mong muốn về kinh tế - xã hội đối với môi trường tự nhiên và tạo ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó”. Định nghĩa này tuy ngắn gọn, nhưng mang tầm khái quát cao. Tác giả Malone - Leo Lai Cho (Singapore, 1997) đã trình bày quan điểm: QHBVMT đáp ứng nhu cầu về nhà ở, việc làm và nghỉ ngơi; giải quyết xung đột về môi trường và phát triển, cần thiết phải quy hoạch trên cơ sở những vấn đề về môi trường. Ngoài ra, mối quan hệ giữa QHMT và các quy hoạch phát triển các của các vùng lãnh thổ, xu hướng chung là: kết hợp điều tra tổng hợp chất lượng môi trường, nghiên cứu phân vùng môi trường (Chen Jingsheng, 1986) và quy hoạch bảo vệ môi trường; phân tích sâu giữa quy hoạch môi trường với đánh giá tác động môi trừơng và các yếu tố sinh thái (Anne Bee ; Richard L.Meier, 1990); mối quan hệ giữa QHBVMT và quy hoạch vùng (Anne R.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nghiên cứu thực tiễn về QHMT ở một số quốc gia trên thế giới cũng đã được thực hiện từ những năm 1960: Khởi đầu là tiến trình quy hoạch vùng của Ban Phát triển khu vực thuộc Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS), được vạch ra từ trước năm 1969. Từ năm 1969, OAS đã trợ giúp 25 nước khối châu Mỹ La tinh và Caribbe tiến hành 75 nghiên cứu lồng ghép tổng hợp kinh tế với môi trường dưới cấp độ quốc gia [114]. Trên cơ sở tiến trình này, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB, 1980) đã đề xuất các kế hoạch lồng ghép tổng hợp kinh tế với môi trường và đã trợ giúp một số nước châu Á thực hiện các nghiên cứu lồng ghép kinh tế với môi trường cho một số dự án điển hình như [114, 116]: quy hoạch cho các lưu vực và thủy vực quan trọng (Lưu vực sông Hàn của Hàn Quốc,1982; Lưu vực hồ Laguna của Philippin, 1978; Lưu vực hồ Songkhla của Thái Lan, 1985; Thung lũng Klang của Malaysia, 1987; Lưu vực Hải Hà của Trung Quốc, 1994; Lưu vực Hải Nam của Trung Quốc, 1993); quy hoạch môi trường cho phát triển vùng tổng hợp và các vùng công nghiệp lớn: Palawan của Philippin (1984); Vùng phát triển công nghiệp Samutprakarn của Thái Lan (1987); Vùng Segara Anakan của Indonesia (1985); đặc biệt quy hoạch môi trường đã được áp dụng khá nhiều ở các vùng ven biển: bờ biển phía Đông của Thái Lan(1986); Môi trường ven biển Indonesia (1995); Vùng ven biển Daro-Mukah của Malaysia (1997) cùng với phát triển mối quan tâm về quản lý tổng hợp đới bờ biển. Qua các nghiên cứu và tài liệu hướng dẫn về quy hoạch lồng ghép kinh tế với môi trường dưới cấp độ quốc gia của các nước trong khu vực, một lần nữa đã làm sáng tỏ nội dung cơ bản của quy hoạch môi trường đó là dựa trên tiếp cận sinh thái, thực hiện các bước điều tra tổng hợp chất lượng môi trường, nghiên cứu phân vùng môi trường và quy hoạch bảo vệ môi trường.