Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG Chi phí đại diện phát sinh từ sự mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ sở hữu (các cổ đông) và người đại diện (những nhà điều hành) khi có sự phân định quyền sở hữu và quyền quản lý (Jensen, 1986). Chi phí đại diện biểu hiện trong nhiều hình thức khác nhau, các thành viên Ban giám đốc có thể theo đuổi những mục tiêu khác với mục tiêu của các cổ đông, chẳng hạn như tập trung vào mục tiêu xây dựng những đế chế tài chính thay vì tạo ra giá trị cho các cổ đông, hành động một cách thiếu năng lực, đưa ra các quyết định đầu tư không tối ưu, và thậm chí là thiếu trung thực như làm sai lệch các báo cáo tài chính, hay các hành vi gian lận khác (corporate fraud). Những hành động lựa chọn ngược (adverse selection) này làm phá hủy quyền lợi của các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác. Sự nhận thức về những hậu quả phát sinh từ chi phí đại diện đã dẫn đến sự nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ chế quản trị công ty và cấu trúc sở hữu doanh nghiệp.
Cơ chế quản trị công ty là một trong những cơ chế bảo vệ lợi ích của cổ đông. Vai trò cốt lõi của một hệ thống quản trị công ty là phải giảm thiểu chi phí đại diện, từ đó tối đa hóa giá trị của công ty cho các cổ đông. Theo như Core và cộng sự (1999) công ty sẽ đối mặt với vấn đề chi phí đại diện nếu như công ty có một cấu trúc quản trị yếu kém, khi đó những nhà quản lý có khuynh hướng theo đuổi lợi ích của cá nhân hơn là làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. Năm 2007, Bộ Tài chính ra Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, mục đích nhằm quy định những nguyên tắc cơ bản về quản trị công ty để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông.
Các nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của quản trị trong công ty trong việc làm giảm chi phí đại diện rất hạn chế. Tuy nhiên, có các bằng chứng cho thấy cơ chế quản trị công ty bên trong có thể làm giảm chi phí đại diện. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực tế các nghiên cứu về mảng quản trị công ty chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển nhưng cũng không nhiều. Các nghiên cứu trực tiếp đo lường chi phí đại diện và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí đại diện của doanh nghiệp lại càng ít hơn.
Các nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra các nhân tố xác định chi phí đại diện và ảnh hưởng của quản trị công ty đến chi phí đại diện, bao gồm: Ang và cộng sự (2000) nghiên cứu dữ liệu của các công ty không niêm yết ở Mỹ, Singh và Davidson (2003) và Doukas, Kim và Pantzalis (2000) sử dụng một mẫu lớn các doanh nghiệp Mỹ niêm yết, Fleming và cộng sự (2005) và Darren Henry (2006) thì nghiên cứu thực nghiệm ở Úc, Ở Anh thì có nghiên cứu của Florackis và Ozkan (2004) trong giai đoạn từ 1999 - 2003. Là một nền kinh tế đang phát triển, thực tiễn môi trường quản trị Việt Nam có sự khác biệt so với các nền kinh tế phát triển kể trên. Theo như Carcello và cộng sự (2002) hay Yatim và cộng sự (2006) ở các nghiên cứu trước về quản trị công ty cũng cho rằng đa phần các nghiên cứu về lĩnh vực này được thực hiện hầu hết ở các nước phát triển và rất ít ở các nước đang phát triển, bởi vì cơ chế quản trị của các nước đang phát triển vẫn trong giai đoạn hoàn thiện. Tuy các thể chế Quản trị công ty độc lập và vững mạnh vẫn còn hiếm thấy tại các công ty ở Việt Nam, nhưng quản trị công ty và cấu trúc sở hữu ngày càng được nhiều nhà quản lý, cổ đông, nhà đầu tư quan tâm đến.
Do đó, tác giả thực hiện bài nghiên cứu này trong môi trường Việt Nam đóng góp vào các nghiên cứu về vấn đề đại diện và vai trò của quản trị công ty cùng cấu trúc sở hữu trong việc giới hạn chi phí đại diện, đặc biệt là sau Quy chế quản trị công ty năm 2007. Mục đích của bài nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của cơ chế quản trị và cấu trúc sở hữu trong việc làm giảm hoặc kiểm soát chi phí đại diện, với mẫu nghiên cứu các doanh nghiệp niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE), từ năm 2009 – 2012. Bài nghiên cứu không chỉ đóng góp vào việc 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tìm kiếm những nhân tố giúp làm giảm chi phí đại diện mà còn gợi ý về quá trình cải tổ quản trị công ty ở Việt Nam.
Phần tiếp theo của bài luận văn được trình bày như sau: Chương 2: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: CỨU TRƯỚC ĐÂY TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN 2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 2.1 Chi Phí đại diện (Agency cost) Các nghiên cứu thực nghiệm đo lường chi phí đại diện bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Lehn và Poulsen (1989) thì đo lường chi phí đại diện bằng chỉ tiêu dòng tiền tự do (free cash flows), được tính bằng dòng tiền hoạt động trước khấu hao, thuế, lãi vay và cổ tức. Opler và Titman (1993), Doukas, Kim, và Pantzalis (2000) thì sử dụng chỉ tiêu kết hợp giữa triển vọng tăng trưởng doanh nghiệp và dòng tiền tự do. Một vài chỉ tiêu khác nữa được dùng đo lường chi phí đại diện.
Trong nghiên cứu của Prowse (1990) và McKnight và Weir (2009) sử dụng là tỷ số thanh toán nhanh (tỷ số thanh khoản tài sản asset liquidity ratio), được xác định bằng tổng lượng tiền mặt và chứng khoán có tính thanh khoản cao trên tổng tài sản. Kaplan và Weisbach (1992); Houston, James, và Ryngaert (2001) và một số nhà nghiên cứu khác sử dụng chỉ tiêu số lượng doanh nghiệp được mua lại bởi một cá thể doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tài sản đo lường khả năng nhà quản lý sử dụng tài sản hiệu quả như thế nào. Một tỷ lệ cao cho thấy một số lượng lớn doanh thu được tạo ra và cuối cùng là dòng tiền được tạo ra từ tài sản của công ty trong năm, như vậy nhà quản lý đang sử dụng tài sản hiệu quả và do đó tạo ra giá trị cho cổ đông.
Một tỷ lệ thấp cho thấy nhà quản lý đang sử dụng tài sản không hiệu quả, không tạo ra dòng tiền và có thể đang hủy hoại giá trị đầu tư. Do đó, các công ty có mâu thuẫn đại diện 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đáng kể thì sẽ có hiệu suất sử dụng tài sản thấp hơn những công ty có ít mâu thuẫn đại diện hơn. Hay hiệu suất tài sản càng cao thì chi phí đại diện càng thấp. Gompers, Ishii, and Metrick (2003) cũng sử dụng biến phụ thuộc hiệu suất sử dụng tài sản nhưng có điều chỉnh ngành, doanh thu trên tổng tài sản là logarit tự nhiên cộng cho chỉ số điều chỉnh ngành (Sales-to-assets is the natural log of one plus the industry adjusted ratio of sales-to-total assets).
Coles và cộng sự (2008) cũng báo cáo một kết quả mạnh khi có hiệu chỉnh ngành (industry adjustment). Tuy nhiên, lưu ý, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản có một vài hạn chế. Đầu tiên, doanh thu được ghi nhận không đồng nghĩa với việc làm gia tăng lợi ích của các cổ đông bởi vì doanh thu có thể không thật sự đến từ hoạt động có lợi nhuận. Thứ hai, doanh thu có thể sản sinh dòng tiền nhưng bị nhà quản lý chiếm đoạt và không được đưa vào lợi ích của cổ đông.
Thứ ba, theo như Coles và cộng sự (2005) cho thấy năng suất có thể rất khác nhau giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành. Tuy thế, chúng ta vẫn cho rằng, theo như nghiên cứu của Ang và cộng sự (2000) và Singh và Davidson (2003), phương đo này cung cấp một chỉ tiêu hữu ích để đo lường chi phí đại diện.2 Quy mô HĐQT (Board Size) Nghiên cứu của Pearce và Zahra (1991) cho thấy HĐQT quy mô nhỏ thì ít quyền lực và hiệu quả so với HĐQT quy mô lớn. Kết quả nghiên cứu của Sigh và Davidson III (2003) cũng ủng hộ cho quan điểm này khi cho thấy quy mô của HĐQT và hiệu suất sử dụng tài sản (asset utilization ratio/ asset turnover) có mối tương quan dương và có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, trong nghiên cứu của Florackis và Ozkan (2004) nghiên cứu mẫu các doanh nghiệp niêm yết ở UK từ năm 1999 – 2003, cho thấy quy mô của HĐQT có ảnh hưởng ngược chiều đối với hiệu suất sử dụng tài sản, có nghĩa là quy mô HĐQT càng lớn thì chi phí đại diện càng cao.
Tương tự, Beiner và cộng sự (2004); Eisenberg và cộng sự (1998) ủng hộ cho kết quả nghiên cứu của Florackis và Ozkan 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (2004) với bằng chứng về quy mô HĐQT tương quan nghịch với hiệu suất sử dụng tài sản.3 Sự độc lập của HĐQT (Board Independence) Trong việc kiểm soát vấn đề đại diện, sự độc lập lớn của HĐQT được xem như cơ chế quản trị có thể đóng vai trò quan trọng. Theo Singh & Davidson (2002), đây là tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành và cũng không liên quan đến công ty thông qua mối quan hệ làm ăn hay gia đình. Một số nghiên cứu của Byrd và Hickman (1992), Brickler và cộng sự (1994), Westphal và Zaiac (1995), và Borokkhovich và cộng sự (1996) về vai trò của quản trị không điều hành đều cho rằng các thành viên Hội đồng quản trị không điều hành làm việc vì lợi ích của các cổ đông. Tương tự kết quả tìm thấy của McKnight và Mira (2003) và Henry (2004) cũng cho thấy chi phí đại diện sẽ giảm đi nếu số lượng thành viên không điều hành tăng trong HĐQT.
Ngược lại, những nghiên cứu của Hermalin và Weisbach (1991) và Agrawal và Koeber (1996) cho rằng thành viên HĐQT không điều hành không có vai trò ý nghĩa trong việc giảm chi phí đại diện. Ang và cộng sự (2000) cũng ủng hộ cho luận điểm của Hermanlin và Weisbacj (1991), và Agrawal và Koeber (1996).