Chương 1: Giới thiệu tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung của chương 2 bao gồm: Tổng quan về QTCT, cấu trúc vốn và hiệu quả doanh nghiệp. Các lý thuyết về QTCT, cấu trúc vốn. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa QTCT, cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động và cuối cùng là các nghiên cứu trước có liên quan cũng như khe hở của nghiên cứu. Tổng quan về quản trị công ty, cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp 2.Khái niệm về quản trị công ty John và Senbet (1998) định nghĩa quản trị công ty là quá trình doanh nghiệp được điều hành và giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các quyết định được đưa ra dựa trên các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp và lợi ích của các bên liên quan, tạo ra giá trị cho cổ đông và đảm bảo sự bền vững và tăng trưởng của công ty.
Metrick và Ishii (2002) định nghĩa QTCT là quá trình quản lý và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp bởi một nhóm người đại diện cho các cổ đông và chủ sở hữu tài sản của công ty để đảm bảo rằng các quyết định được đưa ra trong công ty đúng, công bằng và có lợi cho các bên liên quan, tạo ra giá trị cho cổ đông và đảm bảo sự bền vững và tăng trưởng của công ty trong dài hạn. Theo Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), QTCT là quá trình chỉ đạo, xây dựng và quản lý một công ty. Bộ tài liệu về Các Nguyên tắc quản trị công ty của OECD được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) xuất bản năm 1999, trong đó có một định nghĩa chính xác hơn về QTCT. Đây cũng là định nghĩa được sử dụng chính thức trong nghiên cứu này.
Quản trị trị công ty (corporate governance) là hệ thống các quy tắc, quy trình và thực hành mà một công ty sử dụng để điều hành và quản lý hoạt động của mình. Điều này bao gồm các quyết định chiến lược, phân quyền, phân chia nhiệm vụ, phân chia lợi ích và kiểm soát rủi ro. Mục đích của QTCT là đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của công ty, minh bạch, tôn trọng lợi ích của tất cả các bên liên quan, tuân thủ luật pháp và đưa ra các quyết định tốt nhất cho không chỉ công ty và mà còn cho cả cổ đông. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), QTCT không chỉ bao gồm việc quản lý các hoạt động nội bộ của công ty mà còn bao gồm quản lý các mối quan hệ giữa công ty và các bên liên quan như cổ đông, nhà đầu tư, chính phủ, nhân 8 viên, khách hàng và cộng đồng.
Một hệ thống QTCT hiệu quả giúp tạo dựng niềm tin của các bên liên quan đối với công ty, thu hút nhiều nhà đầu tư và đảm bảo sự tồn tại của công ty trong tương lai.2 Khái niệm về cấu trúc vốn Hiện nay có khá nhiều quan điểm giải thích về cấu trúc vốn của doanh nghiệp của một số tác giả. Theo Honre và ctv (2005), cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Theo nhóm tác giả, các quyết định cấu trúc vốn có liên quan rất quan trọng đến nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Theo Damodaran (2001), ông cho rằng: Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là sự pha trộn giữa nợ và vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho hoạt động, sản xuất kinh doanh.
Theo Ross và ctv (2005), cấu trúc vốn là sự kết hợp nợ dài hạn, nợ ngắn hạn và vốn chủ sở hữu. Nó cho thấy cách một công ty tài trợ cho hoạt động tổng thể và tăng trưởng của mình bằng cách sử dụng các nguồn vốn khác nhau. Theo Akram và Ahmad (2010) lập luận rằng cấu trúc vốn của doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ và thành phần vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho doanh nghiệp. Tài trợ vốn chủ sở hữu thường được cung cấp bởi những người mua cổ phiếu của công ty.
Các cổ đông của công ty chia sẻ rủi ro liên quan đến việc thực hiện kinh doanh và cũng được hưởng phần lợi nhuận kinh doanh. Xét về bản chất, khái niệm về cấu trúc của các tác giả hầu như không có sự khác biệt lớn. Cụ thể là tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, để thống nhất về khái niệm, trong luận án này cấu trúc vốn trong doanh nghiệp được hiểu là: tỷ trọng của nợ trong tổng tài sản để tài trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; trong tổng nợ bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.3 Khái niệm về hiệu quả hoạt động Trong kinh tế học, hiệu quả kinh tế là thuật ngữ chỉ việc sử dụng nhiều nguồn lực một cách tối ưu để sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
Một hệ thống kinh tế được cho là hiệu quả hơn nếu cung cấp thêm hàng hóa và dịch vụ cho xã hội mà không sử dụng nhiều tài nguyên hơn. Theo Antonio và ctv (2006) thì “ HQHĐ là thước đo lường hiệu 9 qủa lợi nhuận kiếm được từ hoạt động và là một hàm của chi phí hoạt động. HQHĐ càng cao thì lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh hoặc đầu tư càng có lãi. Khái niệm hiệu quả là chủ đề gây tranh cãi trong thế giới tài chính vì những hàm ý rộng lớn của nó.
Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của công ty bắt nguồn từ lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược (Murphy, 1996). Để đánh giá hiệu quả công ty cần đo lường trên cả phương tiện tài chính và tổ chức. Hiệu quả tài chính được đo lường bằng cách tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi tức đầu tư và tối đa hóa giá trị cổ đông. Trong khi đó, hiệu quả tổ chức tập trung vào khả năng tận dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có để đạt được mục tiêu đề ra và đánh giá tính liên quan của những nguồn lực này đối với người sử dụng.
Mặc dù có nhiều tiêu chí được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của một công ty, các tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu có thể được nhóm thành hai loại chính. i) tiêu chí từ báo cáo tài chính ii) tiêu chí theo thị trường; Các chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động thường được sử dụng để đánh giá tình hình tài chính của một công ty từ báo cáo tài chính, trong đó có ROA (lợi nhuận trên tài sản (TS)) và ROE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (CSH)). Hai chỉ số này phản ánh lợi nhuận mà công ty đã đạt được trong năm qua.Vì thế, nhóm này là một cách để nhìn vào quá khứ và đánh giá khả năng sinh lợi trong ngắn hạn của các công ty (Hu và Izumida, 2008). Tuy nhiên, giá trị của hai hệ số này lại phụ thuộc vào cách tính lợi nhuận.
Một số nghiên cứu đã sử dụng lợi nhuận trước thuế và chi phí lãi vay để tính hai hệ số trên (Hu và Izumida, 2008; Umawadee Detthamrong và ctv 2017), trong khi một số nghiên cứu khác sử dụng lợi nhuận sau thuế với lãi vay để tính hai tiêu chí (Shah, Butt và Saeed, 2011; Thomsen và Pedersen, 2000). Cũng có nghiên cứu đơn giản chỉ sử dụng lợi nhuận sau thuế để tính (J. Thomas Connelly, 2017; Surya Bahadur, 2016). Ngoài ý nghĩa tài chính khác nhau, lý do của những cách tính khác nhau như vậy có thể là do hạn chế về cơ sở dữ liệu khi sự không đầy đủ của cơ sở dữ liệu sẽ dẫn đến các phép tính khác nhau.
Theo cách tiếp cận thị trường, Tobin's là thước đo tốt nhất và đầy đủ nhất về hiệu quả hoạt động của một công ty. Bởi vì mục tiêu của công ty là "tối đa hóa giá trị của cổ đông, đặc biệt khi so sánh hai nhóm chỉ số thì nhóm ROA và ROE là những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hiện tại và phản ánh khả năng sinh lời mà công ty đạt được 10 trong năm qua. Mặt khác, Tobin's Q có thể cho biết hiệu quả hoạt động trong tương lai của một công ty vì nó phản ánh đánh giá của thị trường về tiềm năng thu nhập trong tương lai của công ty bằng cách được phản ánh trong giá thị trường của cổ phiếu (Hu và Izumida, 2008). Một số nghiên cứu dùng một trong 3 biến ROA, ROE, Tobin’s Q hoặc dùng cả 3 biến hoặc kết hợp 2 biến tùy vào mục tiêu, đặc điểm của đối tượng nghiên để đo hiệu quả doanh nghiệp.
G Tomas M Hult và ctv (2008) đánh giá về phép đo hiệu quả trong nghiên cứu kinh doanh quốc tế, kết quả cho thấy hiệu quả theo chỉ số ROA cao hơn so với chỉ số ROE. Đồng thời, trên thế giới có nhiều nghiên cứu sử dụng ROA và TobinQ để đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp như Sanjai Bhagat Brian Bolton (2008); Ajayi Oziomobo Dada và Zahiruddin B. Ghazali (2016); Ke Li và ctv (2015); Rekha Pillai và Husam-Aldin Nizar Al-Malkawi (2017); Surya Bahadur (2016); Trong luận án này tác giả cũng áp dụng phương pháp tiếp cận thị trường Tobin’Q và tiếp cận báo tài chính ROA để đo lường HQHĐ của doanh nghiệp. Các lý thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết quản trị công ty 2.1 Lý thuyết người đại diện (agency theory) Lý thuyết đại diện xuất phát từ lý thuyết kinh tế được Alchian và Demsetz (1972) đề xuất và tiếp tục được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976).
Nó mô tả mối quan hệ giữa các giám đốc, bao gồm cổ đông, giám đốc điều hành và người quản lý của một công ty. Theo lý thuyết này, các cổ đông đại diện cho chủ sở hữu hoặc chủ tịch của công ty và thuê các nhà quản lý để thực hiện nhiệm vụ của mình. Chủ tịch ủy thác các hoạt động kinh doanh cho các giám đốc hoặc người quản lý đại diện cho các cổ đông (Clarke, 2004). Thật vậy, Daily và ctv (2003) lập luận rằng hai nhân tố làm nổi bật của lý thuyết đại diện.
Thứ nhất, lý thuyết này là khái niệm đơn giản thể hiện sự tham gia của hai bên là nhà quản lý và cổ đông. Thứ hai, lý thuyết đại diện cho rằng nhân viên và người quản lý trong tổ chức có thể mau thuẩn lợi ích. Theo lý thuyết đại diện, cổ đông mong muốn được đại diện hành động và đưa ra quyết định dưới sự kiểm soát của giám đốc.