Chương 1: Tổng quan về đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và sơ lược những nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu nghiên cứu Chứng minh rằng không phải lúc nào mối quan hệ truyền thống giữa chu kỳ luân chuyển tiền, chu kỳ kinh doanh thuần, chu kỳ hoạt động với lợi nhuận công ty cũng đúng, nghĩa là nếu chu kỳ luân chuyển tiền ngắn hơn, chu kỳ kinh doanh thuần ngắn hơn, chu kỳ hoạt động ngắn hơn thì lợi nhuận công ty sẽ cao hơn. Trong một số trường hợp, chu kỳ luân chuyển tiền ngắn hơn, chu kỳ kinh doanh thuần ngắn hơn, chu kỳ hoạt động ngắn hơn cũng có thể làm cho lợi nhuận công ty ít đi. Củng cố, ủng hộ và đề xuất rằng một chu kỳ luân chuyển tiền tối ưu, một chu kỳ kinh doanh thuần tối ưu và một chu kỳ hoạt động tối ưu sẽ là một công cụ đo lường chính xác và đồng bộ trong việc quản lý vốn luân chuyển từ đó có thể tối đa hóa lợi nhuận của công ty.
Đối tƣợng nghiên cứu Nghiên cứu những tác động của chính sách quản lý vốn luân chuyển cũng như các thành phần của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của các công ty cổ phần phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Phạm vi nghiên cứu Báo cáo tài chính của 50 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2012. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phƣơng pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng thông qua việc sử dụng mẫu, phân tích và quan sát các bằng chứng thực nghiệm có sử dụng mô hình hồi quy bình phương bé nhất thông thường OLS LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ SƠ LƢỢC NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết Hiệu quả của việc quản lý vốn luân chuyển dựa trên nguyên tắc càng đẩy nhanh tốc độ thu hồi tiền, giảm lượng hàng tồn kho và càng chậm thanh toán càng tốt.
Nguyên tắc quản lý vốn luân chuyển này dựa trên những quan điểm truyền thống về chu kỳ hoạt động (oc), chu kỳ luân chuyển tiền (ccc), chu kỳ kinh doanh thuần (ntc). Chu kỳ hoạt động của một công ty được đo lường từ lúc mua nguyên vật liệu cho đến khi thực hiện bán hàng và thu hồi được các khoản phải thu. Mặc dù chu kỳ kinh doanh thể hiện rằng dòng tiền tài chính của công ty đến từ các khoản phải thu và hàng tồn kho, nhưng nó bỏ qua dòng luân chuyển từ các khoản phải trả, về vấn đề này, Richards và Loughlin (1980) đã đưa ra chu kỳ luân chuyển tiền xem xét đến tất cả các dòng luân chuyển tiền mặt đến từ các hoạt động. Chu kỳ luân chuyển tiền có thể được định nghĩa là khoảng thời gian từ lúc thanh toán tiền mua nguyên vật liệu cho đến lúc thu về các khoản phải thu kết hợp với việc ghi nhận doanh thu thành phẩm, hàng hóa.
Tuy nhiên, chu kỳ luân chuyển tiền chỉ tập trung vào khoảng thời gian mà không quan tâm loại trừ giá trị của khoản cam kết khi nó đã thoát ra khỏi vòng quay chuyển đổi tiền. Vì vậy, Gentry, Vaidyanathan và Wai (1990) mới đề xuất ra chu kỳ luân chuyển tiền mặt bình quân, tính toán cả thời gian và giá trị cho mỗi giai đoạn của chu kỳ. Chu kỳ luân chuyển tiền mặt bình quân có thể được định nghĩa là số ngày bình quân của các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả trừ đi số ngày bình quân dòng tiền trì hoãn thanh toán cho nhà cung cấp. Thêm vào đó, do tính phức tạp của nó, một sự hạn chế khác của chu kỳ luân chuyển tiền mặt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 bình quân là sự chia nhỏ hàng tồn kho ra thành nguyên vật liệu, chi phí sản xuất dở dang và thành phẩm thì chưa được nghiên cứu đến.
Do đó Shin và Soenen (1998) đề xuất chu kỳ kinh doanh thuần như là một thước đo khác cho quản lý vốn luân chuyển. Họ lập luận rằng chu kỳ luân chuyển tiền mặt chỉ chú ý đến mẫu số của vòng quay hàng tồn kho, vòng quay khoản phải thu và vòng quay phải trả đều khác nhau, làm cho những nhân tố trong chu kỳ luân chuyển tiền mặt này chưa thật sự hữu hiệu. Họ đề xuất rằng mẫu số của vòng quay hàng tồn kho, vòng quay nợ phải thu, và vòng quay nợ phải trả như trong công thức Công thức chu kỳ luân chuyển tiền: Các khoản phải thu Hàng tồn kho Các khoản phải trả -------------------x 365 + ---------------------- x 365 - -----------------------x 365 Doanh thu Giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán Công thức chu kỳ kinh doanh thuần: Các khoản phải thu + HTK – Các khoản phải trả ----------------------------------------------------------------*365 Doanh thu Chu kỳ kinh doanh thuần cơ bản là làm cân bằng chu kỳ luân chuyển tiền mặt khi mà 3 nhân tố của chu kỳ này (khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả) được kết hợp với nhau như là một tỷ lệ trong doanh số, điều này làm cho chu kỳ kinh doanh thuần trở nên dễ tính toán và ít phức tạp hơn so với chu kỳ luân chuyển tiền mặt và chu kỳ luân chuyển tiền mặt bình quân. Shin và Soene (1998) cho rằng chu kỳ kinh doanh thuần là thước đo quản lý vốn luân chuyển tốt hơn so với thước đo chu kỳ luân chuyển tiền và chu kỳ luân chuyển tiền bình quân vì nó xác định được số ngày có doanh số tài trợ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cho vốn luân chuyển và nhà quản lý vốn luân chuyển có thể dễ dàng ước tính được nhu cầu tài trợ vốn luân chuyển tương ứng với của tốc độ tăng trưởng doanh thu theo kế hoạch.
Mặc dù chu kỳ hoạt động, chu kỳ luân chuyển tiền mặt, chu kỳ luân chuyển tiền mặt bình quân và chu kỳ kinh doanh thuần là những công cụ đo lường trong việc quản lý vốn luân chuyển và tính thanh khoản của công ty tốt hơn so với các tỷ số truyền thống như tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh được coi là không thích hợp và sai lệch trong việc đánh giá tính thanh khoản của công ty-những chu kỳ này không xem xét đến các mức tối ưu các khoản phải thu, hàng tồn kho và khoản phải trả. Các liên kết truyền thống giữa các chu kỳ này (chu kỳ hoạt động, chu kỳ luân chuyển tiền mặt, chu kỳ luân chuyển tiền mặt bình quân và chu kỳ kinh doanh thuần) được trình bày trong các bài nghiên cứu trước đó (Shin và Soenen năm 1998; Gentry, và các cộng sự, 1990; Richards và Loughlin, năm 1980, Deloof, 2003) và lợi nhuận, giá trị thị trường và tính thanh khoản của công ty qua đó cho thấy rằng việc rút ngắn các chu kỳ này làm gia tăng lợi nhuận, tính thanh khoản, và giá trị thị trường của công ty. Ví dụ, một chu kỳ luân chuyển đổi tiền mặt chỉ ra rằng công ty quay vòng hàng tồn kho nhanh hơn, thu tiền từ các khoản phải thu nhanh hơn và trì hoãn thanh toán tiền cho nhà cung cấp lâu hơn. Điều này tăng hiệu quả hoạt động nội bộ của một công ty và kết quả là lợi nhuận cao hơn, giá trị hiện tại thuần của dòng tiền cao hơn, và giá trị thị trường của một công ty cao hơn (Gentry, et al, 1990).
Chu kỳ luân chuyển tiền mặt, chu kỳ hoạt động và chu kỳ kinh doanh thuần có thể được rút ngắn lại bằng cách giảm thời gian mà khoản tiền bị buộc chặt trong vốn luân chuyển. Điều này có thể thực hiện bằng cách rút ngắn chu kỳ luân chuyển hàng tồn kho thông qua thực hiện và bán hàng hóa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cho khách hàng nhanh chóng hơn, hoặc bằng cách rút ngắn kỳ thu tiềnthông qua đẩy nhanh các khoản nợ phải thu, hoặc bằng cách kéo dài chu kỳ trả nợ thông qua việc chậm thanh toán cho nhà cung cấp. Mặt khác, rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt, chu kỳ kinh doanh thuần và chu kỳ hoạt động có thể gây tổn thất lợi nhuận của công ty; giảm chu kỳ luân chuyển hàng tồn kho có thể làm tăng chi phí thiếu hụt, giảm kỳ thu tiềncó thể làm mất đi chính sách tín dụng tốt cho khách hàng của công ty và kéo dài chu kỳ phải trả có thể sụt giảm uy tín của công ty. Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (chu kỳ kinh doanh thuần và chu kỳ hoạt động) ngắn hơn được kết hợp với chi phí cơ hội cao, và chu kỳ luân chuyển tiền mặt (chu kỳ kinh doanh thuần và chu kỳ hoạt động) dài hơn kết hợp với chi phí hoạt động cao.
Để đạt được mức tối ưu của hàng tồn kho, nợ phải thu tối ưu và nợ phải trả tối ưu nhằm giảm thiểu cả chi phí hoạt động và chi phí cơ hội của hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả và tối đa hóa doanh thu, lợi nhuận và giá trị thị trường của các công ty. Tác giả cho rằng một chu kỳ luân chuyển tiền mặt tối ưu, một chu kỳ kinh doanh thuần tối ưu và một chu kỳ hoạt động tối ưu khi sẽ đo lường chính xác và toàn diện về công tác quản lý vốn luân chuyển. Các khoản tối ưu trên được xác định như sau: Tối ƣu tài khoản phải thu: Một khoản phải thu tối ưu được xác định bởi việc nối các điểm dòng tiền tăng lên từ việc bán hàng tăng lên được khuyến khích bởi việc cấp tín dụng cho khách hàng bằng đúng với chi phí hoạt động tăng thêm trong tài khoản phải thu (xem Ross et al, 2008). Vì thế, một lượng tín dụng mở rộng tối ưu sẽ được xác định bằng biểu đồ tổng chi phí liên quan đến giá trị tín dụng khác nhau như hình 2.1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Xác định khoản phải thu tối ƣu Nguồn: Ross, Westerfield, and Jordan, 2008, Corporate Finance Fundamental, Eighth’s Edition, McGraw Hill, - Chi phí hoạt động (Carrying Costs) liên quan với việc cấp tín dụng chủ yếu đến từ những chi phí như là chi phí chiết khấu cho khách hàng thanh toán sớm, hoặc bị mất đi từ các khoản nợ xấu, hoặc các chi phí quản lý tín dụng, chi phí hoạt động của phòng ban theo dõi nợ phải thu.
Chi phí hoạt động tăng lên khi mức độ các khoản phải thu (Amount of Receivable) tăng lên.