Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược tình hình nghiên cứu thú Việt Nam Giai đoạn trước thế kỷ 18 việc nghiên cứu thú hoang dã Việt Nam còn rất ít, phần lớn những nghiên cứu về thú được ghi nhận rải rác trong một số nghiên cứu địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế. Chẳng hạn trong sách “Văn đoài loại ngữ” và “Phủ biện tập lục” của Lê Quý Đôn (1724 – 1784); trong “Đại Nam nhất thống chí” triều Nguyễn (1856-1882) cũng có ghi chép một số loài thú ở các địa phương. Giai đoạn này các nghiên cứu còn sơ khai chỉ chú ý các loài động vật quý hiếm như: Voi, Tê giác, Hươu xạ, Gấu.
Vào những năm đầu thế kỷ XIX việc nghiên cứu động vật hoang dã trong đó có các loài thú được tiến hành thu thập các mẫu thú bởi các nhà khoa học nước ngoài. Năm 1828 George pinlayson (người Anh) đã đến khảo sát về thú ở Lào, Campuchia và Việt Nam đã mô tả một số loài thú. Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả lần lượt được công bố như: M. Đến những năm giữa thế kỷ XIX các công trình nghiên cứu về thú bắt đầu từ miền Nam của nhiều tác giả như Milne – Edwards (1867 -1874), Morice (1875), tiến dần ra phía Bắc như Billet (1896 – 1898).
Trong thời kỳ này bắt đầu hình thành các đoàn khảo sát có quy mô lớn như đoàn Pavie (1879 -1895) hoạt động ở Lào, Thái Lan và Việt Nam. Những tiêu bản thú của đoàn được Pousargues (1904) phân tích và công bố. Cũng trong thời gian này đoàn khoa học trường trú ở Bắc Bộ do Boutan dẫn đầu (1900 -1906) thu thập các tiêu bản thú gửi về Paris do Ménégaux (1905 -1906) phân tich. Sau khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng vào năm 1954 do yêu cầu về phát triển kinh tế công tác điều tra cơ bản về động vật nói chung và thú LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 hoang dã nói riêng bắt đầu được đẩy mạnh và hoàn toàn do cán bộ Việt Nam đảm nhận.
Năm 1973 trong cuốn sách “Thú kinh tế Việt Nam” của Lê Hiền Hào, đã đề cập tới một số loài thú phân bố ở Nghệ An như: Khỉ Vàng, Đon, Chồn Mác, Lửng Lợn, Cầy giông, Cầy hương, Cầy móc cua, Mèo rừng. Sau khi miền Nam được thống nhất, đất nước được giải phóng, địa bàn nghiên cứu được mở rộng ra toàn quốc, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu khu hệ thú ở Việt Nam. Lực lượng tham gia nghiên cứu khu hệ thú tại Việt Nam thời kỳ này bao gồm cả các đơn vị nghiên cứu như Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, Viện điều tra quy hoạch rừng, đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Lâm nghiệp, các chương trình nghiên cứu của nhà nước như Chương trình 52-02 điều tra tổng hợp Tây Nguyên (1981- 1986), Chương trình CT-48C (1987- 1990), chương trình nghiên cứu điều tra động vật vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long…Cùng với đó là sự hợp tác với các nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ để nghiên cứu khu hệ động vật, đã thu được những kết quả rất đáng ghi nhận. Rất nhiều các công trình khoa học có giá trị lớn đã được công bố trong thời kỳ này, Một số công trình khoa học tiêu biểu của thời kỳ này đó là Đào Văn Tiến (1985), khảo sát thú miền Bắc Việt Nam; Cao Văn Sung, Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kính (1980) những loài thú gặm nhấm ở Việt Nam.
Với sự giúp đỡ của các nhà khoa học nước ngoài, các chuyên gia thú Việt Nam đã công bố cuốn “Danh lục thú Việt Nam” năm 1994 ghi nhận 223 loài thú (Đặng Huy Huỳnh và cs, 2007) [12]. Trên cơ sở tổng hợp các dữ liệu hiện có, năm 1994, Đặng Huy Huỳnh, Đào Văn Tiến, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên đã công bố danh lục thú (Mammalia) Việt Nam gồm 223 loài thuộc 12 bộ, 37 họ. Mỗi loài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 các tác giả đã nêu tên khoa học, tên đồng nghĩa, tên Việt Nam và tên địa phương, vùng phân bố ở Việt Nam và trên thế giới, giá trị kinh tế, giá trị bảo tồn, tình trạng, biện pháp sử dụng và bảo vệ (Đặng Huy Huỳnh và cs, 2007) [12]. Cũng từ những năm 90 của thế kỷ 20, các nhà khoa học Việt Nam đã đi sâu nghiên cứu về đa dạng sinh học động vật nói chung trong đó có khu hệ thú và thú ăn thịt, thu thập nhiều dẫn liệu về sinh thái, sinh học, các nguyên nhân suy giảm nguồn lợi thú hoang dã ở Việt Nam và đã công bố nhiều công trình có ý nghĩa.
Lê Vũ Khôi năm 2000 đã xuất bản cuốn danh lục các loài thú Việt Nam với 289 loài và phân loài thuộc 40 họ, 14 bộ. Năm 2003 các nhà khoa học người Nga đã tổng hợp và công bố khu hệ thú Việt Nam có 310 loài (Đặng Huy Huỳnh và cs, 2007) [12]. Lê Xuân Cảnh và Nguyễn Xuân Đặng vào năm 2009 đã công bố danh lục thú Việt Nam với 322 loài thuộc 43 họ [7]. Các nghiên cứu về thú ăn thịt trong cả nước Tác giả Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng, 2000, “Sổ tay ngoại nghiệp nhận diện các loài thú lớn của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát” đã thống kê được 67 loài động vật lớn trong đó có 9 loài năm trong bộ ăn thịt có số lượng lớn nhất về loài, trong đó có rất nhiều loài có ý nghĩa kinh tế [15].
Các tác giả Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Xuân Đặng, Nguyễn Trường Sơn, 2000, “Đa dang sinh học khu hệ thú ở Hữu Liên – Lạng Sơn” tạp chí sinh học số 22 trang 117 -121. Đã thống kê ở khu vực nghiên cứu có 75 loài thú thuộc 55 giống, 28 họ, 9 bộ trong đó có 22 loài thuộc bộ ăn thịt, thuộc 19 giống, 6 họ [8]. Tại hội thảo khoa học công nghệ của hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, 2010. Các tác giả Nguyễn Đắc Mạnh, Nguyễn Xuân Đặng, Nguyễn Xuân Nghĩa đã trình bày báo cáo “Tính đa dạng sinh học và giá trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 bảo tồn của khu hệ thú ở KBTTN Đakrồn, Quảng Trị”.
Đã thống kê được trong khu vực nghiên cứu có 89 loài thuộc 26 họ và 10 bộ. Trong đó bộ ăn thịt có 24 loài thuộc 6 họ[14]. Năm 2010, Đỗ Quang Huy và cộng sự đã công bố 8 loài thú ăn thịt thuộc 4 họ tại Khu BTTN Pù Hoạt, Nghệ An. Ngoài ra các tác giả cũng chỉ ra 8 nguyên nhân dẫn đến suy giảm tài nguyên tài nguyên thú ăn thịt tại khu vực nghiên cứu và đưa ra các đề xuất bảo vệ nguồn tài nguyên này [11].
Các nghiên cứu tại Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông Năm 2003 với sự hỗ trợ của dự án FFI dự án bảo vệ cảnh quan dãy núi đá vôi Pù Luông – Cúc Phương một cuộc khảo sát về động vật có xương sống đã được tiến hành, không bao gồm các loài cá. Đã thống kê được 296 loài trong đó có 68 loài thú, 179 loài chim, 31 loài bò sát và 18 loài ếch nhái [4]. Năm 2008, Lê Trọng Đạt, Đỗ Quang Huy, Lê Thiện Đức, Lưu Quang Vinh, Lương Tất Hào đã công bố 93 loài động vật có xương sống thuộc 29 họ và 29 họ. Trong đó đã liệt kê 26 loài thuộc 6 họ thuộc bộ ăn thịt [18].
Mới đây nhất trong báo cáo Dự án Ngọc Sơn – Ngổ Luông số 7 năm 2010, Luis Santiago Cano Alonso và Phạm Quang Thiện đã thống kê 14 loài thú ăn thịt thuộc 4 họ còn tồn tại trong Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông vào thời điểm đó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu chung. Góp phần vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông cũng như của cả khu vực hành lang xanh Cúc Phương – Pù Luông.
Mục tiêu cụ thể. - Đánh giá tính đa dạng loài và giá trị của khu hệ thú ăn thịt tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông. - Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn tài nguyên thú ăn thịt cho khu vực nghiên cứu. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng: Các loài thú ăn thịt tại khu vực nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu: + Địa điểm: Đề tài được nghiên cứu tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông, tỉnh Hoà Bình, trong đó chủ yếu tập trung tại 2 xã: Tự Do, huyện Lạc Sơn và Ngổ Luông, huyện Tân Lạc.
+ Thời gian: từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 11 năm 2015. Nội dung nghiên cứu: Nhằm đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu trên đề tài tập trung vào các nội dung chính sau: - Nghiên cứu tính đa dạng về thành phần loài thú ăn thịt tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Nghiên cứu đặc điểm phân bố và tình trạng của một số loài thú ăn thịt ưu tiên bảo tồn trong khu vực nghiên cứu. - Xác định các yếu tố đe doạ tới Khu hệ thú ăn thịt tại khu vực nghiên cứu.
- Hiện trạng công tác quản lý, bảo tồn của KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông. - Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn cho khu vực nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu: 2. Kế thừa tài liệu.
Thu thập các tài liệu, thông tin có liên quan đến công tác nghiên cứu: - Các báo cáo điều tra đa dạng sinh học tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông - Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, bản đồ địa hình, bản đồ khu dân cư của khu vực. - Báo cáo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của UBND tỉnh Hoà Bình 2. Phỏng vấn bán định hướng. Phỏng vấn bán định hướng được thực hiện song song với quá trình điều tra thực địa.
Các đối tượng được phỏng vấn bao gồm: + Phỏng vấn cán bộ (Cán bộ KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông, chính quyền địa phương, kiểm lâm,…) + Phỏng vấn thợ săn + Phỏng vấn người dân địa phương khác Phương pháp này cung cấp cho chúng ta những thông tin có ý nghĩa về tình hình tài nguyên động vật rừng của địa phương điều tra trên các phương diện thành phần loài, mức độ phong phú, phân bố thực tại, thức ăn, sinh sản, tình trạng các loài. Trong khi trao đổi thu thập thông tin, chúng tôi đã sử dụng tranh ảnh chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài. Với hình thức các câu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hỏi ngắn gọn, dễ hiểu về những đặc điểm dễ nhận dạng của loài.