Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông được thành lập vào năm 2004 với tổng diện tích tự nhiên đạt 19.254 ha, nằm trên địa bàn 7 xã thuộc hai huyện Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Về mặt cảnh quan địa lý, khu vực này giữ vị trí mắt xích sống còn trong dải hành lang xanh liên kết sinh thái núi đá vôi kéo dài từ Vườn quốc gia Cúc Phương với diện tích 22.220 ha đến Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông với diện tích 17.662 ha. Dữ liệu thực địa ghi nhận toàn khu bảo tồn có hệ động vật phong phú gồm 93 loài thú, 253 loài chim, 48 loài bò sát và 34 loài lưỡng cư.

Mặc dù giữ vai trò chiến lược trong bảo tồn đa dạng sinh học vùng Tây Bắc, tài nguyên thú ăn thịt tại đây đối mặt với tình trạng thiếu hụt dữ liệu điều tra chuyên sâu. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bình Định tại Đại học Lâm nghiệp được tiến hành từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 11 năm 2015 nhằm giải quyết lỗ hổng thông tin này. Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện cấu trúc thành phần loài, xác định đặc tính phân bố, hiện trạng của 18 loài ưu tiên bảo tồn và nhận diện các áp lực sinh thái tiêu cực.

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc xác lập cơ sở dữ liệu khoa học cho 16.833,1 ha đất rừng đặc dụng, trong đó có 11.833 ha thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Việc làm rõ hiện trạng phân bố của 26 loài thú ăn thịt thuộc bộ Carnivora giúp ban quản lý định hình chính xác các vùng ưu tiên bảo tồn, tối ưu hóa nguồn lực tuần tra và xây dựng phương án giảm thiểu các mối đe dọa sinh cảnh cho toàn bộ khu vực chuyển tiếp Tây Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết điều hòa từ đỉnh xuống (Top-down control) trong sinh thái học quần xã. Theo lý thuyết này, các loài thuộc bộ ăn thịt Carnivora đóng vai trò là sinh vật tiêu thụ bậc cao nhất trong chuỗi thức ăn, giữ chức năng kiểm soát mật độ các loài thú ăn thực vật và gặm nhấm, loại bỏ các cá thể mang mầm bệnh để duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái rừng. Bên cạnh đó, lý thuyết hành lang sinh thái cảnh quan (Landscape Ecology Corridor) được áp dụng nhằm luận giải vai trò cầu nối sinh học của hệ sinh thái Karst Ngọc Sơn – Ngổ Luông đối với sự phân tán và trao đổi nguồn gen thú lớn.

Các khái niệm cốt lõi trong công trình bao gồm: tuyệt chủng sinh thái (trạng thái mật độ quần thể suy giảm đến mức không còn duy trì được chức năng sinh thái tự nhiên), tuyệt chủng cục bộ (sự biến mất hoàn toàn của một loài tại một sinh cảnh xác định), và loài ưu tiên bảo tồn. Hệ thống phân loại và đánh giá cấp độ đe dọa được căn cứ nghiêm ngặt theo các tiêu chí chuẩn hóa của Sách đỏ IUCN năm 2014, Sách đỏ Việt Nam năm 2007 và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua quy trình kết hợp đa phương pháp nhằm đảm bảo độ chính xác cao:

  • Điều tra thực địa theo tuyến cố định: Thiết lập 7 tuyến khảo sát tiêu biểu với tổng chiều dài trên 12.800 m, đi qua các dạng sinh cảnh đặc trưng tại xã Tự Do và xã Ngổ Luông. Mỗi tuyến có độ dài dao động từ 1.205 m đến 2.399 m, được khảo sát lặp lại từ 5 đến 7 lần vào cả ban ngày lẫn ban đêm để thu thập tọa độ GPS, dấu vết chân, phân và thức ăn thừa.
  • Phỏng vấn bán định hướng: Sử dụng bộ công cụ câu hỏi ngắn gọn kết hợp hình ảnh chuẩn để phỏng vấn 3 nhóm đối tượng gồm cán bộ kiểm lâm, thợ săn giàu kinh nghiệm và người dân bản địa tại 7 xã trong vùng đệm và vùng lõi.
  • Phân tích và giám định mẫu vật: Kiểm tra, đối chiếu các mẫu vật thực tế gồm da, lông, đuôi, sọ đang được lưu giữ tại bảo tàng và nhà người dân địa phương.
  • Đánh giá mối đe dọa bằng phương pháp TRA (Threats Reduction Assessment): Lượng hóa các mối nguy cơ dựa trên 3 tiêu chí định lượng gồm phạm vi tác động, cường độ suy thoái và tính cấp thiết theo mô hình của Margoluis và Salafsky.
  • Xử lý dữ liệu không gian và thống kê: Ứng dụng phần mềm MapInfo 10 để số hóa bản đồ phân bố các loài ưu tiên và sử dụng Microsoft Excel để thống kê cấu trúc taxon và sinh cảnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực tế kết hợp tổng hợp tư liệu đã ghi nhận 26 loài thú ăn thịt thuộc 6 họ, tất cả đều nằm trong bộ Carnivora tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông. Tỷ lệ số loài trong các họ có sự phân hóa rõ rệt: họ Cầy (Viverridae) chiếm ưu thế lớn nhất với 8 loài, tương đương 30,77%; tiếp theo là họ Triết (Mustelidae) gồm 7 loài, chiếm 26,92%; họ Mèo (Felidae) có 6 loài, chiếm 23,08%; họ Gấu (Ursidae) có 2 loài, chiếm 7,69%; họ Cầy lỏn (Herpestidae) có 2 loài, chiếm 7,69%; và họ Chó (Canidae) chỉ có 1 loài đại diện là Sói đỏ (Cuon alpinus), chiếm 3,85%.

Về đặc điểm phân bố không gian theo sinh cảnh, kết quả phản ánh sự phụ thuộc chặt chẽ của khu hệ thú vào chất lượng thảm thực vật:

  • Sinh cảnh rừng trên núi đá (SC1) và sinh cảnh rừng trên núi đất (SC2) là nơi cư trú trọng yếu nhất, mỗi sinh cảnh đều ghi nhận sự hiện diện của 24 loài trên tổng số 26 loài, đạt tỷ lệ 92,31%.
  • Sinh cảnh trảng cỏ, cây bụi (SC3) ghi nhận 16 loài phân bố, chiếm 61,54%, chủ yếu thuộc họ Cầy và họ Mèo.
  • Sinh cảnh đất nông nghiệp và khu dân cư (SC4) chỉ ghi nhận 1 loài xuất hiện, tương đương 3,85%.

Về giá trị bảo tồn nguồn gen, có tới 18 loài thuộc danh mục ưu tiên bảo tồn cao, chiếm 69,23% tổng số loài ghi nhận. Theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, có 12 loài thuộc nhóm IB (nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại) như Báo gấm, Hổ, Gấu ngựa, Gấu chó và 5 loài thuộc nhóm IIB. Sách đỏ Việt Nam năm 2007 ghi nhận 14 loài (2 loài cực kỳ nguy cấp CR là Hổ và Báo hoa mai, 8 loài nguy cấp EN). Đợt điều tra thực địa đã thu thập được bằng chứng xác thực về dấu chân cào mới của loài Gấu trên thân cây tại tọa độ 427235/2263069 thuộc xã Ngọc Sơn, cùng các mẫu vật lông Mèo rừng (Felis silvestris) và đuôi Cầy gấm (Prionodon pardicolor) tại các hộ gia đình thợ săn.

Thảo luận kết quả

Sự phong phú về thành phần loài tại Ngọc Sơn – Ngổ Luông (26 loài) cao tương đương Vườn quốc gia Cúc Phương (28 loài trên 22.220 ha) và vượt trội hơn hẳn so với Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (17 loài trên 17.662 ha) cũng như Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến (22 loài trên 5.892 ha). So với tổng số 39 loài thú ăn thịt đã biết trên toàn lãnh thổ Việt Nam, khu hệ tại đây đại diện cho khoảng 66,7% tổng số loài của cả nước.

Khi trực quan hóa qua biểu đồ hình tròn về cơ cấu taxon và biểu đồ cột về phân bố sinh cảnh, dữ liệu cho thấy sự tập trung áp đảo tại các vách đá vôi hiểm trở thuộc vùng lõi xã Tự Do và xã Ngổ Luông. Đây là những nơi thảm thực vật rừng nguyên sinh và thứ sinh ít bị xáo trộn. Ngược lại, mật độ quần thể của các loài thú ăn thịt lớn đang suy giảm nghiêm trọng. Các loài thú đỉnh chuỗi thức ăn như Hổ (Panthera tigris), Báo hoa mai (Panthera pardus), Beo lửa (Catopuma temmincki) và Sói đỏ (Cuon alpinus) không còn ghi nhận dấu vết thực địa trong nhiều năm và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cục bộ cao.

Nguyên nhân chính xuất phát từ hoạt động săn bắn trái phép bằng súng kíp, bẫy kiềng và bẫy dây diễn ra tập trung từ tháng 3 đến tháng 9. Thêm vào đó, áp lực khai thác gỗ Mun (Diospyros sp.) và lâm sản ngoài gỗ tại các thung lũng như Thung La Bán và xóm Đèn đã trực tiếp làm phân mảnh sinh cảnh, đẩy các loài thú ăn thịt quý hiếm vào tình trạng cô lập sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá hiểm họa TRA, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược có tính khả thi cao nhằm quản lý và phục hồi tài nguyên thú ăn thịt:

  • Thiết lập cơ chế tuần tra nghiêm ngặt và triệt phá bẫy thú: Tổ chức các đội tuần tra liên ngành giữa Hạt Kiểm lâm khu bảo tồn và chính quyền 7 xã, tăng cường chốt chặn tại các cửa rừng xung quanh xã Tự Do và Ngổ Luông. Mục tiêu giảm ít nhất 80% số lượng bẫy thú và súng săn tự chế trong vòng 12 đến 24 tháng tới.
  • Phục hồi sinh cảnh và phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt: Rà soát, cắm mốc ranh giới bảo vệ toàn diện cho 11.833 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt; chấm dứt hoàn toàn hoạt động khai thác gỗ tự nhiên và chăn thả gia súc tự do tại các sinh cảnh rừng núi đá (SC1) và rừng núi đất (SC2). Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình cần chủ trì bố trí nguồn vốn lâm sinh phục hồi rừng nghèo kiệt giai đoạn 2016 – 2020.
  • Triển khai chương trình sinh kế thay thế cho 2.164 hộ dân địa phương: Xây dựng các mô hình phát triển lâm sản ngoài gỗ bền vững, hỗ trợ kỹ thuật thâm canh nông nghiệp và thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Phấn đấu hạ tỷ lệ hộ nghèo tại địa bàn từ mức 57,5% - 60,6% xuống dưới 35% trong vòng 5 năm, giúp người dân giảm áp lực phụ thuộc vào tài nguyên rừng.
  • Ứng dụng công nghệ bẫy ảnh tự động trong giám sát đa dạng sinh học: Ban quản lý khu bảo tồn cần hợp tác với các viện nghiên cứu lắp đặt tối thiểu 30 trạm bẫy ảnh tự động tại các tọa độ ghi nhận dấu vết gấu và cầy quý hiếm trong vòng 6 đến 12 tháng, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa liên tục phục vụ công tác giám sát dài hạn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên sau đại học: Tài liệu cung cấp hệ thống dẫn liệu chuẩn xác về danh lục taxon bộ Carnivora, phương pháp lập tuyến điều tra trên địa hình Karst và kỹ thuật phân tích mối đe dọa sinh thái TRA.
  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Cung cấp case study thực tế về phương pháp điều tra động vật hoang dã hẹp sinh cảnh và quy trình xây dựng bản đồ phân bố phục vụ quy hoạch bảo tồn tại chỗ.
  • Chi cục Kiểm lâm và các cơ quan quản lý nhà nước: Nguồn thông tin hữu ích giúp các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh và huyện xây dựng kế hoạch hành động bảo vệ động vật nguy cấp, thực thi Nghị định số 32/2006/NĐ-CP và quản lý hành lang sinh thái liên tỉnh.
  • Các tổ chức phi chính phủ bảo tồn thiên nhiên: Tài liệu nền tảng phục vụ thiết kế các dự án viện trợ bảo tồn nguồn gen thú nguy cấp, hỗ trợ phát triển sinh kế cộng đồng và giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ thiên nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao khu hệ thú ăn thịt tại Ngọc Sơn – Ngổ Luông có mức độ đa dạng loài cao?

Khu bảo tồn nằm ở vị trí trung tâm của hành lang xanh đá vôi nối liền Cúc Phương và Pù Luông. Nơi đây sở hữu 13.942 ha rừng tự nhiên trên nền địa hình Karst hiểm trở, tạo ra nhiều vi sinh cảnh và thảm thực vật đa tầng, cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho 26 loài thú ăn thịt sinh sống.

Những loài thú ăn thịt nào đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cục bộ tại đây?

Bốn loài thú ăn thịt lớn gồm Hổ (Panthera tigris), Báo hoa mai (Panthera pardus), Beo lửa (Catopuma temmincki) và Sói đỏ (Cuon alpinus) đều thuộc nhóm nguy cấp và cực kỳ nguy cấp. Trong suốt quá trình khảo sát thực địa và phỏng vấn thợ săn, không còn ghi nhận bất kỳ dấu hiệu sống nào của các loài này.

Hai dạng sinh cảnh nào giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại của thú ăn thịt?

Rừng trên núi đá (SC1) và rừng trên núi đất (SC2) là hai sinh cảnh then chốt. Cả hai sinh cảnh này đều ghi nhận sự có mặt của 24 trên tổng số 26 loài (chiếm 92,31% tổng số loài), nhờ độ che phủ cao, nguồn nước ngầm dồi dawf và sự phong phú của các loài con mồi.

Bằng chứng thực địa nào khẳng định sự tồn tại của các loài thú quý hiếm trong đợt điều tra?

Đoàn nghiên cứu đã trực tiếp ghi nhận dấu vết cào mới của loài Gấu trên thân cây tại tọa độ 427235/2263069 thuộc xã Ngọc Sơn. Đồng thời, nhóm tác giả đã thu thập và kiểm chứng các mẫu vật thực tế gồm da lông Mèo rừng và đuôi Cầy gấm tại nhà thợ săn ở xã Ngổ Luông và Ngọc Sơn.

Phương pháp TRA được ứng dụng như thế nào trong quản lý bảo tồn tại khu vực?

Phương pháp TRA định lượng mức độ nguy hại của các tác động con người dựa trên thang đo phạm vi, cường độ và tính cấp thiết. Kết quả chỉ ra rằng săn bắn trái phép và khai thác gỗ quý là hai hiểm họa hàng đầu cần được can thiệp khẩn cấp bằng các biện pháp tuần tra kết hợp hỗ trợ sinh kế.

Kết luận

  • Xác lập danh lục khoa học gồm 26 loài thú ăn thịt thuộc 6 họ của bộ Carnivora, chiếm khoảng 66,7% tổng số loài thú ăn thịt của Việt Nam.
  • Ghi nhận 18 loài có giá trị bảo tồn ưu tiên cao, trong đó 12 loài thuộc nhóm IB và 5 loài thuộc nhóm IIB theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP.
  • Chứng minh sinh cảnh rừng núi đá và rừng núi đất là vùng phân bố sinh thái cốt lõi khi lưu giữ tới 92,31% thành phần loài của toàn khu hệ.
  • Chỉ rõ hoạt động săn bắn trộm và khai thác lâm sản trái phép là các nguyên nhân căn bản dẫn đến sự suy thoái quần thể và nguy cơ tuyệt chủng cục bộ của các loài thú lớn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp tích hợp giữa thực thi pháp luật kiểm lâm, bảo vệ 11.833 ha vùng lõi nghiêm ngặt và chuyển đổi sinh kế cho 2.164 hộ dân bản địa.

Trong giai đoạn 2016 – 2020, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông cùng chính quyền tỉnh Hòa Bình cần khẩn trương số hóa bản đồ phân bố sinh cảnh, đẩy mạnh lắp đặt hệ thống bẫy ảnh tự động và tăng cường hợp tác bảo tồn liên vùng. Việc bảo vệ toàn vẹn khu hệ thú ăn thịt tại đây không chỉ bảo tồn nguồn gen bản địa quý hiếm mà còn duy trì tính liên kết sinh thái bền vững cho toàn bộ cảnh quan núi đá vôi vùng Tây Bắc.