Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2005 - 2010, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam chứng kiến sự bùng nổ tín dụng mạnh mẽ với mức tăng trưởng bình quân đạt 30,4% mỗi năm, đẩy tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP từ 70% năm 2005 lên xấp xỉ 140% vào năm 2010. Tuy nhiên, sự tăng trưởng nóng đi kèm với quản trị rủi ro yếu kém, tình trạng sở hữu chéo, cho vay sân sau và dòng vốn chảy mạnh vào lĩnh vực bất động sản đã dẫn tới cuộc khủng hoảng nợ xấu nghiêm trọng. Đến 10 tháng đầu năm 2012, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống sụt giảm đột ngột xuống mức 2,77%, đẩy nhiều tổ chức tín dụng vào tình trạng căng thẳng thanh khoản và đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán.

Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Phan Thị Minh Khoa tập trung giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu trọng tâm: phân tích kinh nghiệm quốc tế về việc sử dụng các công ty quản lý tài sản (Asset Management Companies - AMC), đặc biệt là mô hình Cơ quan Tái thiết Ngân hàng Indonesia (IBRA); và đánh giá thực trạng nợ xấu cùng các rào cản thể chế tại Việt Nam nhằm đề xuất mô hình công ty quản lý tài sản công phù hợp. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu báo cáo tài chính năm 2012 của 18 ngân hàng thương mại đại diện cho 63,47% tổng tài sản hệ thống, cùng các chính sách tái cơ cấu theo Quyết định 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi bóc tách quy mô nợ xấu tiềm ẩn từ 131 nghìn tỷ đến 400 nghìn tỷ đồng, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế hoạt động cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết khủng hoảng ngân hàng của Gelpern (2004) và Klingebiel (2000), phân định rõ giữa khủng hoảng lan truyền (contagion) và khủng hoảng mang tính hệ thống (macro shock). Để giải quyết nợ xấu, hai nhóm giải pháp căn bản được xem xét là giải pháp dòng tiền (flow solution - dùng lợi nhuận tương lai bù đắp tổn thất) và giải pháp xử lý tài sản gốc (stock solution - thanh lý, tái cấu trúc ngân hàng hoặc thành lập công ty quản lý tài sản tập trung). Nghiên cứu cũng ứng dụng lý thuyết bất đối xứng thông tin và rủi ro đạo đức (Moral Hazard) của Stiglitz và Weiss (1981) để phân tích hiện tượng ngân hàng chấp nhận rủi ro khi được nhà nước bảo lãnh ngầm.

Khung lý thuyết của Woo (2000) và Rose (2005) từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) được vận dụng để chuẩn hóa các khái niệm cốt lõi: nợ xấu (NPLs - nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên theo tiêu chuẩn quốc tế và phân loại nhóm 3 đến nhóm 5 theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN), Công ty Quản lý tài sản (AMC với hai nhánh chức năng: xử lý nhanh tài sản hoặc tái cấu trúc doanh nghiệp), Hệ số an toàn vốn (CAR), và cơ chế dung túng quản lý rủi ro (forbearance).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích định lượng báo cáo tài chính và kiểm tra sức chịu tải (stress-testing) thông qua phân tích kịch bản. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo tài chính đã kiểm toán năm 2012 của 18 ngân hàng thương mại Việt Nam, các công bố chính thức từ Ngân hàng Nhà nước, dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, IMF và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để chọn ra 18 ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng quốc doanh lớn nhất có dữ liệu thuyết minh tài chính đầy đủ, nắm giữ tổng tài sản 2.794 nghìn tỷ đồng, chiếm 63,47% quy mô toàn hệ thống. Các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được loại trừ do chỉ chiếm khoảng 5% thị phần và không thuộc diện tái cơ cấu bắt buộc. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kịch bản là nhằm khắc phục tình trạng thiếu minh bạch thông tin và sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) với chuẩn mực quốc tế (IFRS), qua đó lượng hóa rủi ro từ các tài sản ngoại bảng, trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết và tiền gửi liên ngân hàng. Tiến trình nghiên cứu dữ liệu được chốt tại thời điểm tháng 5 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự chênh lệch rất lớn giữa nợ xấu báo cáo và nợ xấu thực tế. Mặc dù 18 ngân hàng trong mẫu khảo sát công bố tỷ lệ nợ xấu bình quân chỉ 2,6% (tương đương 39,19 nghìn tỷ đồng), nhưng khi tính toán lại dựa trên thuyết minh về tiền gửi quá hạn, cho vay liên ngân hàng, các khoản phải thu và trái phiếu doanh nghiệp, con số nợ xấu thực tế vọt lên 4,84% (tương đương 83,19 nghìn tỷ đồng). Nếu ngoại suy cho toàn hệ thống, tổng nợ xấu vượt mức 131 nghìn tỷ đồng.

Thứ hai, danh mục tài sản rủi ro ngoài cho vay khách hàng có quy mô khổng lồ. Tổng giá trị của các khoản tiền gửi và vàng tại tổ chức tín dụng khác (297 nghìn tỷ đồng), cho vay liên ngân hàng (162 nghìn tỷ đồng) và chứng khoán nợ (175 nghìn tỷ đồng) lên tới 634 nghìn tỷ đồng, tương đương 41,4% tổng dư nợ cho vay của 18 ngân hàng, nhưng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro chỉ đạt 0,78% (khoảng 5 nghìn tỷ đồng).

Thứ ba, sở hữu chéo và cho vay chỉ định đối với các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) làm méo mó kỷ luật tín dụng. Dư nợ cho vay SOEs chiếm khoảng 17% tổng tín dụng (415 nghìn tỷ đồng vào tháng 9 năm 2011), với tỷ lệ nợ xấu ước tính từ 30% đến 35%. Điển hình như nợ xấu của Vinashin và Vinalines tại Habubank và BIDV lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng không có tài sản bảo đảm đầy đủ. Cùng với đó, tình trạng cho vay liên quan diễn ra nghiêm trọng, tiêu biểu như Ngân hàng Á Châu (ACB) cấp tín dụng 7.300 tỷ đồng cho 6 công ty liên quan đến thành viên Hội đồng sáng lập.

Thứ tư, phân tích kịch bản cho thấy đệm vốn hệ thống rất mỏng. Trong kịch bản nợ xấu toàn diện lên mức 15%, tổng nợ xấu của 18 ngân hàng đạt 260 nghìn tỷ đồng (toàn hệ thống ước tính 400 nghìn tỷ đồng), khiến tỷ lệ nợ xấu ròng trên vốn chủ sở hữu của 6 ngân hàng vượt mức 1, đẩy các tổ chức này vào tình trạng mất sạch vốn tự có.

Thảo luận kết quả

Khung khổ pháp lý và năng lực tư pháp tại Việt Nam là rào cản lớn nhất đối với việc xử lý nợ xấu. Theo Báo cáo Doing Business 2013 của Ngân hàng Thế giới, thời gian giải quyết một vụ phá sản, xử lý tài sản bảo đảm tại Việt Nam kéo dài trung bình 5 năm, chi phí chiếm tới 15% giá trị tài sản và tỷ lệ thu hồi chỉ đạt 13,9 xu trên mỗi USD nợ (xếp hạng 149 toàn cầu). So với mức bình quân 2,6 năm và tỷ lệ thu hồi 31,3 xu của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, thủ tục tư pháp của Việt Nam rất phức tạp và kéo dài từ 2 đến 10 năm trong thực tế. Dữ liệu này có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh thời gian và chi phí xử lý tài sản giữa Việt Nam và các nước ASEAN.

So sánh với bài học quốc tế, mô hình IBRA của Indonesia (1998 - 2004) cho thấy một cơ quan tái thiết ngân hàng tập trung chỉ đạt tỷ lệ thu hồi nợ 28,5% (thu về 150 nghìn tỷ rupiah trên tổng chi phí 650 nghìn tỷ rupiah, chiếm 40% GDP năm 2000) do bị trì hoãn trong 4 năm đầu vì thiếu nguồn vốn độc lập, năng lực định giá yếu và vướng mắc pháp lý. Ngược lại, Danaharta của Malaysia đạt tỷ lệ thu hồi 42,7% nhờ được trao quyền năng pháp lý đặc biệt để xử lý tài sản ngoài tòa án. Do đó, việc thành lập VAMC tại Việt Nam theo cơ chế mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt 0% lãi suất mà không có nguồn vốn tiền mặt thực tế và quyền tài phán đặc biệt sẽ biến VAMC thành một công cụ hoãn nợ kỹ thuật hơn là một giải pháp dứt điểm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và trao quyền tài phán đặc biệt cho cơ quan xử lý nợ. Quốc hội và Chính phủ cần ban hành các văn bản pháp luật đặc thù cho phép cơ quan xử lý nợ có quyền thu giữ, định giá và phát mại tài sản bảo đảm theo cơ chế thị trường mà không cần có sự đồng thuận của bên vay hoặc chờ phán quyết kéo dài của tòa án. Mục tiêu rút ngắn thời gian xử lý tranh chấp tài sản từ 5 năm xuống dưới 2,5 năm trong giai đoạn 2013 - 2015.

Thứ hai, tái cấp vốn và định giá nợ theo giá trị thị trường cho VAMC. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần cấp vốn mồi thực chất bằng tiền mặt hoặc trái phiếu chính phủ có tính thanh khoản cao cho VAMC. Cơ chế mua nợ xấu phải dựa trên giá trị thị trường chiết khấu thay vì mua theo mệnh giá bằng trái phiếu đặc biệt 0% lãi suất, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ thu hồi tài sản tối thiểu đạt từ 30% đến 40% trong vòng 5 năm hoạt động.

Thứ ba, triệt tiêu sở hữu chéo và kiểm soát chặt chẽ tình trạng cho vay nội bộ. Ngân hàng Nhà nước cần thực hiện thanh tra toàn diện, minh bạch hóa danh tính cổ đông thực tế, xóa bỏ tình trạng tăng vốn ảo giữa các tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế. Thiết lập lộ trình trong 24 tháng để giảm tỷ lệ sở hữu chéo của các cá nhân và nhóm cổ đông liên quan xuống dưới mức trần quy định 5%, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp lách luật qua hình thức ủy thác đầu tư.

Thứ tư, minh bạch hóa và phân bổ ngân sách xử lý dứt điểm nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ cần chủ động tách bạch các khoản nợ chỉ định đầu tư công của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như Vinashin, Vinalines ra khỏi bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại quốc doanh. Thành lập quỹ xử lý nợ chuyên biệt từ nguồn tái cơ cấu vốn nhà nước và phát hành trái phiếu chính phủ dài hạn với quy mô ước tính khoảng 400 nghìn tỷ đồng trong lộ trình 3 đến 5 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và Ban Kinh tế Trung ương. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các phát hiện thực nghiệm để thiết kế khung khổ pháp lý vận hành VAMC, hoàn thiện Đề án 254 về cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng và xây dựng quy chuẩn phân loại nợ theo thông lệ quốc tế.

Thứ hai, Hội đồng quản trị và Ban điều hành của 18 ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng quốc doanh. Nghiên cứu cung cấp công cụ phân tích kịch bản độ đệm vốn (NPL net/vốn chủ sở hữu) để các ngân hàng tự rà soát danh mục đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, tiền gửi liên ngân hàng và chủ động tái cấu trúc nợ xấu trước khi chuyển giao.

Thứ ba, các tổ chức tài chính quốc tế, công ty quản lý tài sản độc lập và nhà đầu tư mua bán nợ (distressed debt funds). Báo cáo cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu tài sản thế chấp, rủi ro pháp lý và biên độ chiết khấu tài sản phá sản tại Việt Nam để xây dựng chiến lược định giá và tham gia thị trường mua bán nợ.

Thứ tư, các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Tài chính - Ngân hàng và Kinh tế học ứng dụng. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa lý thuyết khủng hoảng tài chính và mô hình kinh nghiệm so sánh từ Indonesia, Malaysia, Thái Lan.

Câu hỏi thường gặp

Thứ nhất, tại sao số liệu nợ xấu thực tế lại có sự chênh lệch lớn so với số liệu báo cáo của các ngân hàng thương mại? Sự sai lệch xuất phát từ việc áp dụng chuẩn mực kế toán VAS chưa phản ánh đúng giá trị thị trường của tài sản, cùng với việc cơ quan giám sát cho phép phân loại các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 2 thay vì nhóm mất vốn. Báo cáo 18 ngân hàng công bố nợ xấu 2,6% (39,19 nghìn tỷ đồng), nhưng khi tính thêm các khoản đầu tư trái phiếu rủi ro và nợ liên ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu thực tế lên tới 4,84% (83,19 nghìn tỷ đồng) và Fitch ước tính lên đến 13%.

Thứ hai, mô hình VAMC giai đoạn đầu có điểm nghẽn cốt lõi nào cần tháo gỡ? Hạn chế lớn nhất là VAMC mua nợ xấu theo mệnh giá bằng trái phiếu đặc biệt không có lãi suất thay vì dùng tiền mặt mua theo giá thị trường. Ngân hàng nhận trái phiếu để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước nhưng vẫn phải trích lập dự phòng 20% mỗi năm. Cơ chế này chỉ tạm thời làm sạch bảng cân đối kế toán kỹ thuật chứ chưa thực sự chuyển giao và phát mại tài sản ra ngoài thị trường.

Thứ ba, bài học sâu sắc nhất từ mô hình IBRA của Indonesia đối với Việt Nam là gì? IBRA đạt tỷ lệ thu hồi 28,5% nhưng chịu tổn thất tài khóa lên tới 500 nghìn tỷ rupiah (40% GDP năm 2000) do thiếu ngân sách độc lập và vướng mắc pháp lý trong 4 năm đầu. Bài học rút ra là một AMC công chỉ thành công khi được cấp ngân sách độc lập ngay từ ngày đầu, có quyền phát mại tài sản nhanh và tránh sự can thiệp chính trị vào việc cơ cấu lại các tập đoàn lớn.

Thứ tư, sở hữu chéo và cho vay nội bộ gây ra những hệ lụy gì cho an toàn hệ thống ngân hàng? Sở hữu chéo giúp các cổ đông lớn tạo ra vốn điều lệ ảo bằng cách góp vốn vào ngân hàng rồi dùng pháp nhân liên kết vay lại đúng số tiền đó để đầu tư bất động sản hoặc mở rộng kinh doanh. Điển hình như vụ việc ACB cấp tín dụng 7.300 tỷ đồng hay trường hợp SCB, khiến tỷ lệ an toàn vốn bị thổi phồng nhưng thanh khoản thực tế suy kiệt khi thị trường đóng băng.

Thứ năm, tại sao thủ tục tư pháp lại là trở ngại lớn nhất trong việc thanh lý tài sản bảo đảm? Theo Báo cáo Doing Business 2013, thủ tục phá sản tại Việt Nam kéo dài 5 năm với chi phí chiếm 15% tài sản và tỷ lệ thu hồi chỉ đạt 13,9 xu trên mỗi USD nợ. Sự chồng chéo giữa Luật Phá sản, Bộ luật Dân sự và sự thiếu hụt kiến thức tài chính của thẩm phán khiến việc xử lý tài sản bảo đảm qua tòa án thường kéo dài từ 2 đến 10 năm.

Kết luận

  • Tăng trưởng tín dụng nóng với tốc độ bình quân 30,4% mỗi năm trong giai đoạn 2001 - 2011, đi kèm tình trạng sở hữu chéo phức tạp và các khoản nợ chỉ định của doanh nghiệp nhà nước (415 nghìn tỷ đồng) là nguyên nhân cốt lõi gây ra khủng hoảng nợ xấu tại Việt Nam.
  • Quy mô nợ xấu thực tế toàn hệ thống ước tính từ 131 nghìn tỷ đến 400 nghìn tỷ đồng, đe dọa trực tiếp đến an toàn vốn của 6 trên 18 ngân hàng thương mại khảo sát trong kịch bản rủi ro 15%.
  • Mô hình công ty quản lý tài sản công chỉ phát huy hiệu quả khi được cấp nguồn vốn thực, mua nợ theo giá thị trường và trao quyền tài phán đặc biệt như bài học thành công từ Danaharta của Malaysia thay vì hoãn nợ kỹ thuật như giai đoạn đầu của IBRA Indonesia.
  • Cải cách thủ tục tư pháp và hoàn thiện luật phá sản là điều kiện tiên quyết để rút ngắn thời gian thanh lý tài sản từ 5 năm xuống mức chuẩn 2,6 năm của khu vực Đông Á.
  • Áp dụng nghiêm ngặt chuẩn mực IFRS, nâng cao năng lực giám sát của Ngân hàng Nhà nước và chấm dứt cơ chế dung túng chính sách là giải pháp then chốt để tái lập kỷ luật tài chính.

Luận văn đã đóng góp một hệ thống luận cứ thực nghiệm vững chắc và mô hình phân tích kịch bản sâu sắc cho tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam. Để hiện thực hóa các khuyến nghị, các cơ quan hoạch định chính sách cần khẩn trương hoàn thiện hành lang pháp lý xử lý tài sản bảo đảm trong giai đoạn 2013 - 2020, tạo tiền đề giải phóng nguồn vốn ứ đọng và khôi phục tăng trưởng kinh tế bền vững.