Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ mang tên "Nghiên cứu quản lý nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Phan Thị Thu Hiền thực hiện tại Trường Đại học Giao thông vận tải, thuộc chuyên ngành Tổ chức và Quản lý vận tải (mã số: 9 84 01 03) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Thị Lan Hương và TS. Lê Thu Huyền, bảo vệ năm 2022.

Tính cấp thiết của đề tài

Trong cấu trúc chi phí logistics, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng chủ yếu. Tại Việt Nam, dịch vụ logistics mới hình thành và sức cạnh tranh còn hạn chế. Theo các báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), chỉ số hiệu quả logistics (LPI) của Việt Nam có sự biến động qua các năm: xếp thứ 48 thế giới năm 2014, thứ 64 năm 2016 và thứ 39/160 năm 2018. Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 và Quyết định số 221/QĐ-TTg ngày 22/02/2021 đặt ra các chỉ tiêu trọng yếu đến năm 2025: tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt từ 5% đến 6%, tốc độ tăng trưởng đạt từ 15% đến 20%, tỷ lệ thuê ngoài đạt từ 50% đến 60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16% đến 20% GDP và xếp hạng LPI thế giới đạt từ thứ 50 trở lên.

Bên cạnh đó, Quyết định số 1210/QĐ-TTg ngày 24/07/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành Giao thông vận tải (GTVT) đến năm 2020 cũng nhấn mạnh việc phát triển vận tải hàng hóa đa phương thức tích hợp với dịch vụ logistics trên các hành lang vận tải chính. Tuy nhiên, sự phát triển giữa các loại hình vận tải hàng hóa tại Việt Nam chưa đồng bộ: phương tiện tập trung quá lớn vào đường bộ (trên hành lang Bắc - Nam, đường bộ đảm nhận gần 80% lượng hàng hóa luân chuyển, trong khi đường sắt chỉ chiếm khoảng 2%). Sự mất cân đối và thiếu kết nối này làm gia tăng đáng kể chi phí lưu thông và giá thành hàng hóa.

Công tác quản lý nhà nước (QLNN) về vận tải đa phương thức (VTĐPT) trong hoạt động logistics bộc lộ nhiều điểm nghẽn:

  1. Bất cập về hệ thống văn bản pháp lý: Các lĩnh vực đường bộ, đường sắt, hàng hải đều có Luật hoặc Bộ luật chuyên ngành điều chỉnh, trong khi VTĐPT chưa có đạo luật riêng mà chỉ chịu sự điều chỉnh của các văn bản dưới luật (Nghị định số 125/2003/NĐ-CP, Nghị định số 87/2009/NĐ-CP, Nghị định số 144/2018/NĐ-CP).
  2. Chồng chéo trong tổ chức bộ máy quản lý: Bộ GTVT cấp giấy phép kinh doanh VTĐPT; Bộ Công Thương quản lý nhà nước về dịch vụ logistics; Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp đăng ký kinh doanh; Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý giao dịch điện tử theo Luật Giao dịch điện tử 2005. Tình trạng nhiều cơ quan cùng quản lý nhưng thiếu cơ quan đầu mối điều hành thống nhất gây phức tạp cho hoạt động của doanh nghiệp.
  3. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và công nghệ: Hạ tầng giao thông thiếu kết nối đồng bộ, hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) và thông tin điều hành còn lạc hậu.
  4. Năng lực doanh nghiệp trong nước: Các doanh nghiệp vận tải nội địa phần lớn có quy mô nhỏ, hiểu biết luật pháp quốc tế còn hạn chế, chưa đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn vận tải đa quốc gia.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về logistics, vận tải đa phương thức và quản lý nhà nước liên quan (chiến lược phát triển, chức năng nhiệm vụ, mô hình quản lý).
  2. Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý vận tải đa phương thức và logistics của các quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học cho Việt Nam.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại Việt Nam giai đoạn 2011–2020.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại Việt Nam định hướng đến năm 2030.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Mối quan hệ giữa vận tải đa phương thức và hoạt động logistics là gì?
  2. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển của vận tải đa phương thức?
  3. Những tác động của quản lý nhà nước đối với vận tải đa phương thức là gì?
  4. Mô hình quản lý nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại Việt Nam như thế nào là hiệu quả?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics, tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước cấp Bộ, ngành; không nghiên cứu mô hình quản trị nội bộ của doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam và các hành lang vận tải chiến lược.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng thông qua chuỗi số liệu thống kê 10 năm từ năm 2011 đến năm 2020; đề xuất phương hướng, giải pháp giai đoạn đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các nhóm nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu về logistics: Đoàn Thị Hồng Vân (2003, 2006) đặt nền móng lý thuyết ban đầu về logistics và quản trị logistics; Giáo trình của Đại học Thương mại (2011) tiếp cận logistics kinh doanh ở góc độ vi mô; Nguyễn Như Tiến (2004) phân tích dịch vụ logistics trong doanh nghiệp vận tải giao nhận; Từ Sỹ Sùa (2015) nghiên cứu quản lý logistics quốc tế; Đặng Đình Đào (2010, 2011, 2012) khảo sát dịch vụ logistics tại 10 tỉnh, thành phố; Báo cáo của Bộ GTVT (2014) và GIZ (2020) nghiên cứu định hướng chiến lược phát triển logistics nhưng tập trung chủ yếu vào dịch vụ nội địa, chưa đi sâu vào tích hợp VTĐPT.
  • Nghiên cứu về vận tải đa phương thức: Đinh Ngọc Viện (2002) phân tích nghiệp vụ giao nhận vận tải quốc tế; Trần Huy Bình (2019) nghiên cứu giải pháp phát triển VTĐPT phục vụ xuất nhập khẩu; Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản - JICA (2008) với nghiên cứu VITRANSS 2 chỉ ra cơ cấu vận tải hàng hóa nghiêng mạnh về đường bộ (hàng công nghiệp chiếm 88%, thực phẩm chiếm 85% đi đường bộ); Báo cáo ALG (2011) hỗ trợ kỹ thuật xác định tổng chi phí logistics cho một số mặt hàng điển hình tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu về quản lý nhà nước trong giao thông vận tải: Bùi Minh Huấn (1996) nghiên cứu QLNN trong xây dựng giao thông; Tạ Văn Khoái (2009) nghiên cứu QLNN đối với dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách; Phan Huy Lệ (2012) nghiên cứu QLNN về thu và sử dụng phí đường bộ; Lê Trọng Thành (2018) nghiên cứu QLNN về vận tải ô tô tại Ninh Bình; Nguyễn Ngọc Thạch (2015) nghiên cứu giải pháp an toàn giao thông đường bộ; Vũ Hồng Trường (2013) nghiên cứu mô hình QLNN về vận tải hành khách công cộng đô thị.

Các nhóm nghiên cứu quốc tế

  • Lý luận về chuỗi logistics và chi phí: Stock và Lambert (2001), Grant và cộng sự phân định cấu trúc hoạt động chuỗi logistics; OECD (2002) xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả VTĐPT; Sheffi và cộng sự (1988), Chow (2007) phát triển mô hình tổng chi phí logistics (Total Logistics Cost - TLC); Gibson (2002), Premeaux (2009), Aguezzoul (2012) phân tích tiêu chí lựa chọn phương thức vận tải của người gửi hàng và nhà cung cấp dịch vụ; Domingo (2016) đề cập xu hướng Logistics 4.0 và tự động hóa; Chaiyot Peetijade và Athikom Bangviwat (2012) nghiên cứu thực trạng 85,75% xe tải chạy rỗng tại khu vực Bangkok (Thái Lan) gây lãng phí 37,42% nhiên liệu hàng tuần.
  • Văn bản và khung thể chế quốc tế: Công ước Geneva 1980 của Liên hợp quốc về vận tải hàng hóa đa phương thức quốc tế; Quy tắc chung UNCTAD/ICC về chứng từ VTĐPT (1992); Hướng dẫn 92/106/EEC của Liên minh châu Âu; Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức ký năm 2005 tại Viêng Chăn (Lào); Báo cáo Phát triển Việt Nam (2019) của World Bank và Australia Aid chỉ ra 3 rào cản kết nối đa phương thức tại Việt Nam: thiếu tự động hóa đường thủy nội địa, cảng sông kém phát triển và hạ tầng bị giới hạn.
  • Quản lý nhà nước và điều hành vận tải: Paweł Więcek và Augustyn Lorenc (2014) nghiên cứu giải pháp quản lý bền vững vận chuyển hàng hóa đô thị châu Âu; Nugent (1991) phân tích vai trò nhà nước trong việc cung cấp hạ tầng và điều tiết thị trường; Adrienne Curry (1999) nghiên cứu quản lý dịch vụ công; Behzad Behdani và cộng sự (2017) phân tích cạnh tranh mạng lưới VTĐPT; James J. Green (2016) nghiên cứu chính sách môi trường vận tải đường bộ tại Mỹ; M. Kulović (2004) mô hình hóa chi phí vận chuyển đường bộ; Per Olof Arnäs và cộng sự (2017) nghiên cứu trao đổi thông tin quản lý VTĐPT; Jie Liu (2011) đề xuất chính sách quản lý vận tải trong chuỗi cung ứng; Nghiên cứu năm 2013 về QLNN hoạt động vận tải tại tỉnh Savannakhet (Lào).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Các công trình trong và ngoài nước đã khẳng định tầm quan trọng của logistics và VTĐPT nhưng phần lớn tiếp cận ở cấp độ quản trị tác nghiệp của doanh nghiệp hoặc quản lý từng phương thức vận tải riêng lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận, phương pháp đánh giá và đề xuất hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy, thể chế QLNN đối với VTĐPT trong mối quan hệ gắn kết với hoạt động logistics trên các hành lang vận tải chiến lược tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm Logistics: Quá trình tối ưu hóa vị trí, thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu của chuỗi cung ứng đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua các hoạt động kinh tế (Đoàn Thị Hồng Vân, 2003). Vận tải và logistics chiếm khoảng 7% đến 14% doanh thu tùy ngành nghề sản xuất kinh doanh.
  • Khái niệm Vận tải đa phương thức: Việc vận chuyển hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức, một chứng từ vận chuyển, một chế độ trách nhiệm và do một người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO) chịu trách nhiệm xuyên suốt.
  • Các mô hình kết hợp vận tải:
    1. Mô hình Biển - Không (Sea - Air): Kết hợp chi phí thấp của đường biển và tốc độ của hàng không, áp dụng cho hàng giá trị cao, hàng theo mùa.
    2. Mô hình Đường bộ - Hàng không (Road - Air): Ô tô thu gom hàng đầu cuối, máy bay vận chuyển chặng dài.
    3. Mô hình Đường sắt - Đường bộ (Rail - Road): Phối hợp tính an toàn khối lượng lớn của đường sắt và tính linh hoạt của ô tô (kéo chở trailer).
    4. Mô hình Đường sắt - Đường bộ - Đường thủy nội địa - Đường biển (Rail - Road - Inland waterway - Sea): Mô hình tổng hợp phổ biến nhất cho hàng hóa xuất nhập khẩu đóng container.
    5. Mô hình Cầu lục địa (Landbridge) và Cầu lục địa mini (Mini-Landbridge): Sử dụng chặng đường sắt/bộ trên đất liền kết nối giữa hai vùng biển/đại dương nhằm rút ngắn thời gian và hành trình.
  • Phương tiện và thiết bị kỹ thuật: Phân loại xe ô tô tải theo tải trọng (<0,75T; 0,75-2T; 2-5T; 5-10T; >10T) và công năng (xe ben, xe thùng kín, xe bồn, xe chuyên dụng); đầu máy đường sắt và các loại toa xe (toa mui, toa mở, toa phẳng chở container, toa bảo ôn); tàu biển bách hóa và tàu chuyên dụng (Handy, Panamamax, Capesize...); tàu thủy nội địa (sà lan tự hành và không tự hành); máy bay chở hàng; công cụ container và thiết bị xếp dỡ (hệ thống xe khung straddle carrier, cần cẩu RTG di động bánh lốp, RMGC chạy ray, cầu trục OHC); cảng cạn (ICD), bến container chuyên dụng và hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tiếp cận theo quan điểm hệ thống - cấu trúc, lịch sử - logic, thực tiễn và phát triển.

Nhóm phương pháp Nội dung và kỹ thuật thực hiện Nguồn dữ liệu áp dụng
Thu thập và xử lý số liệu Thu thập các chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo quy hoạch của các Bộ, ngành và tổ chức quốc tế. Điều tra, khảo sát thực tế nhóm cố định. Các văn bản pháp quy, số liệu Tổng cục Thống kê, Bộ GTVT, WB, JICA, phiếu khảo sát chuyên gia.
Thống kê và so sánh Thống kê số lượng phương tiện, khối lượng luân chuyển hàng hóa, hạ tầng cảng biển, đường bộ, đường sắt giai đoạn 2011–2020. Chuỗi số liệu vận tải đường bộ, đường sắt, cảng biển, đường thủy 2011–2020.
Mô hình hóa Khái quát hóa chuỗi vận tải, quy trình điều phối, cấu trúc sàn giao dịch vận tải và sơ đồ Hub & Spoke. Dữ liệu hành lang vận tải chiến lược và mô hình phân bổ luồng hàng.
Phương pháp chuyên gia Lấy ý kiến tham vấn các nhà khoa học, cán bộ quản lý nhà nước tại các cơ quan chuyên ngành và lãnh đạo doanh nghiệp logistics. Biên bản phỏng vấn, phiếu xin ý kiến chuyên gia về mô hình tổ chức và thể chế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến dịch vụ logistics, vận tải đa phương thức và quản lý nhà nước về vận tải. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu giải quyết bài toán vận tải đơn thức hoặc phân tích chuỗi cung ứng ở phạm vi hẹp. Luận án xác lập khung logic nghiên cứu, làm rõ khoảng trống khoa học về việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống về cơ chế, mô hình tổ chức QLNN đối với VTĐPT trong mối tương quan với hoạt động logistics cấp quốc gia.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại Việt Nam

Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế - kỹ thuật của VTĐPT trong logistics:

  • Phân tích chi tiết các đặc điểm kỹ thuật của phương tiện vận tải (ô tô, tàu hỏa, tàu biển, tàu sông, máy bay), công cụ chứa hàng (container) và hệ thống xếp dỡ chuyên dụng tại bến cảng, ICD.
  • Trình bày 5 mô hình VTĐPT kinh điển (Sea - Air, Road - Air, Rail - Road, Rail - Road - Inland waterway - Sea, Cầu lục địa).
  • Khái quát hóa nội dung, công cụ, phương pháp và tiêu chí đánh giá hiệu lực QLNN trong lĩnh vực VTĐPT.
  • Tổng hợp kinh nghiệm quản lý nhà nước về logistics và VTĐPT của các khối/quốc gia: khối ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và châu Âu; từ đó rút ra các bài học về hoàn thiện quy hoạch hạ tầng kết nối, xây dựng cơ chế điều phối liên ngành và ứng dụng công nghệ thông tin trong thủ tục thông quan hàng hóa.

Chương 3: Phân tích đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại Việt Nam

Chương 3 phân tích thực trạng hệ thống vận tải và công tác QLNN tại Việt Nam giai đoạn 2011–2020:

  • Thực trạng các phương thức: Đánh giá hạ tầng và khối lượng vận chuyển của 5 phương thức (đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không). Đường bộ chiếm tỷ trọng áp đảo nhưng gây áp lực lớn lên chi phí và hạ tầng, đường sắt lạc hậu với thị phần vận tải hàng hóa chỉ khoảng 2%, đường thủy nội địa thiếu thiết bị bốc dỡ cơ giới hóa tại các bến thủy.
  • Hiện trạng cơ sở hạ tầng VTĐPT: Phân tích mạng lưới đường bộ năm 2020, hệ thống cầu cảng biển, kết nối cảng biển và các hành lang vận tải có tiềm năng khai thác VTĐPT.
  • Thực trạng thể chế và bộ máy quản lý: Phân tích sự phân tán trong thẩm quyền cấp phép và quản lý giữa Bộ GTVT (Nghị định số 87/2009/NĐ-CP, Nghị định số 144/2018/NĐ-CP), Bộ Công Thương (Luật Thương mại 2005), Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
  • Đánh giá thực trạng: Tổng hợp kết quả khảo sát chuyên gia nhóm cố định, nêu rõ những thuận lợi đã đạt được và các hạn chế cốt lõi: thiếu cơ quan điều phối chung, hành lang pháp lý chưa có luật riêng, kết nối hạ tầng cứng giữa đường sắt - cảng biển - ICD còn yếu, hạ tầng mềm (hệ thống dữ liệu EDI, sàn giao dịch vận tải) chưa đồng bộ.

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics

Chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện định hướng đến năm 2030:

  1. Định hướng và mục tiêu: Bám sát các chỉ tiêu phát triển logistics theo Quyết định số 221/QĐ-TTg, hướng đến tối ưu hóa chi phí vận chuyển trên các hành lang chiến lược.
  2. Hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy: Đề xuất thành lập Cục Quản lý Vận tải đa phương thức trực thuộc Bộ GTVT nhằm tập trung đầu mối quản lý nhà nước, thực thi chức năng điều phối liên ngành thay thế cho mô hình quản lý phân tán hiện nay.
  3. Hoàn thiện cơ chế chính sách:
    • Xây dựng và ban hành khung pháp lý hoàn chỉnh về VTĐPT, tiến tới nâng cấp các quy định dưới luật thành văn bản luật chuyên ngành.
    • Ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực quản lý chuyên trách.
    • Thiết lập cơ chế ưu đãi tài chính, tín dụng và thủ tục khuyến khích doanh nghiệp phát triển các dịch vụ logistics tích hợp 3PL, 4PL.
  4. Phát triển kết cấu hạ tầng:
    • Hạ tầng cứng: Quy hoạch và đầu tư xây dựng các Trung tâm đầu mối (TTĐM) vận tải đa phương thức và logistics phục vụ hàng hóa xuất nhập khẩu theo mô hình mạng lưới trục - nan hoa (Hub & Spoke), kết nối trực tiếp đường sắt và đường thủy nội địa vào các khu bến cảng biển nước sâu.
    • Hạ tầng mềm: Triển khai hệ thống truyền thông dữ liệu điện tử (EDI) quốc gia kết nối giữa cơ quan quản lý (Hải quan, Cảng vụ, GTVT) với doanh nghiệp vận tải; xây dựng mô hình Sàn giao dịch vận tải đa phương thức tại Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với vận tải đa phương thức trong chuỗi dịch vụ logistics tại các quốc gia đang phát triển.
  • Làm rõ cấu trúc vận hành, đặc tính kỹ thuật phương tiện, trang thiết bị xếp dỡ và 5 mô hình kết hợp phương thức vận tải hàng hóa.
  • Xây dựng khung phân tích, đánh giá hiệu quả hệ thống VTĐPT và cơ chế điều hành vĩ mô của nhà nước trên các hành lang vận tải chiến lược.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh, phản ánh sát thực trạng mất cân đối phương thức vận tải tại Việt Nam giai đoạn 2011–2020 thông qua hệ thống dữ liệu thống kê đường bộ, đường sắt, cảng biển, đường thủy nội địa.
  • Chỉ ra các nguyên nhân gốc rễ dẫn đến chi phí logistics tại Việt Nam còn ở mức cao, trong đó xác định nguyên nhân chính từ sự phân tán trong cơ cấu bộ máy quản lý và sự thiếu đồng bộ của hạ tầng kết nối.
  • Đề xuất giải pháp mang tính khả thi cao về việc thành lập Cục Quản lý Vận tải đa phương thức trực thuộc Bộ GTVT để giữ vai trò nhạc trưởng điều phối mạng lưới vận tải quốc gia.
  • Đề xuất phương án quy hoạch các trung tâm đầu mối logistics (Hub & Spoke), sàn giao dịch vận tải đa phương thức và hệ thống hạ tầng dữ liệu EDI kết nối xuyên suốt đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào giác độ quản lý nhà nước cấp Bộ, ngành và hệ thống hành lang vận tải vĩ mô trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam; chưa đi sâu phân tích chi tiết cơ chế tài chính nội bộ, hạch toán chi phí vận hành vi mô của từng doanh nghiệp kinh doanh vận tải đơn lẻ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá thực nghiệm tác động kinh tế của mô hình sàn giao dịch vận tải đa phương thức khi đưa vào vận hành thực tế; nghiên cứu sâu hơn về quy trình tích hợp thủ tục hải quan điện tử xuyên biên giới trong khuôn khổ Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức đối với các tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây và Bắc - Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho việc hoạch định chính sách, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, tái cơ cấu thị phần vận tải và xem xét kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý chuyên ngành VTĐPT.
  • Đối với các viện nghiên cứu, trường đại học, giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống về kinh tế vận tải, logistics, hệ thống hạ tầng cảng cạn, bến bãi container và bài học kinh nghiệm quốc tế phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu ngành Tổ chức và Quản lý vận tải, Kinh tế vận tải.
  • Đối với các hiệp hội và doanh nghiệp logistics, MTO: Cung cấp định hướng về phát triển hạ tầng kết nối, mô hình sàn giao dịch vận tải và định hướng chuyển dịch mô hình cung ứng dịch vụ sang 3PL, 4PL.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải quyết vấn đề mất cân đối phương thức vận tải nào nổi cộm nhất tại Việt Nam?
Luận án chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng trên hành lang Bắc - Nam khi phương thức đường bộ đảm nhận tới gần 80% lượng hàng hóa luân chuyển, trong khi vận tải đường sắt có lịch sử khai thác lâu đời nhưng chỉ đảm nhận khoảng 2% khối lượng vận chuyển hàng hóa, dẫn đến gia tăng chi phí logistics quốc gia.

2. Bất cập lớn nhất trong mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về VTĐPT hiện nay là gì?
Sự phân tán và thiếu cơ quan đầu mối thống nhất: Bộ GTVT cấp giấy phép kinh doanh VTĐPT; Bộ Công Thương quản lý nhà nước về dịch vụ logistics; Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp đăng ký kinh doanh; Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý các giao dịch điện tử. Điều này tạo ra nhiều tầng nấc thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.

3. Luận án đề xuất giải pháp tổ chức bộ máy cụ thể nào để thống nhất đầu mối quản lý?
Luận án đề xuất thành lập Cục Quản lý Vận tải đa phương thức trực thuộc Bộ Giao thông vận tải làm cơ quan chuyên trách điều phối, quản lý các hoạt động VTĐPT và kết nối logistics trên quy mô cả nước.

4. Khung thời gian và mục tiêu logistics quốc gia nào được luận án sử dụng làm căn cứ định hướng đến năm 2025–2030?
Luận án căn cứ vào các chỉ tiêu tại Quyết định số 200/QĐ-TTg, Quyết định số 221/QĐ-TTg và Quyết định số 1210/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2025: tỷ trọng logistics đóng góp vào GDP đạt 5% - 6%, tăng trưởng 15% - 20%, tỷ lệ thuê ngoài 50% - 60%, chi phí logistics giảm xuống 16% - 20% GDP và xếp hạng LPI thế giới đạt từ thứ 50 trở lên.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thị Thu Hiền đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại Việt Nam. Thông qua chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2011–2020 và kinh nghiệm quốc tế, công trình đã làm rõ các điểm nghẽn về thể chế, mô hình tổ chức và hạ tầng kỹ thuật kết nối. Các đề xuất thành lập Cục Quản lý Vận tải đa phương thức, hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng mạng lưới trung tâm đầu mối theo mô hình Hub & Spoke là những đóng góp khoa học và thực tiễn quan trọng nhằm tối ưu hóa chi phí logistics quốc gia đến năm 2030.