CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 1.1 Các công trình nghiên cứu về logistics Có thể nói, cuốn sách đầu tiên chuyên sâu về logistics được công bố ở Việt Nam là “Logistics - Những vấn đề cơ bản” của Đoàn Thị Hồng Vân (2003) [24]. Cuốn sách này giới thiệu lý luận cơ bản về logistics như khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của logistics, phân loại logistics, kinh nghiệm phát triển logistics của một số quốc gia trên thế giới. Sau đó, tác giả giới thiệu tiếp cuốn Quản trị logistics (2006) [25], tập trung vào quản trị logistics. Ở cả 2 cuốn sách, nội dung thực tiễn rất hạn chế, chủ yếu dừng ở mức giới thiệu các dịch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, kho bãi… của một số doanh nghiệp Việt Nam.
Giáo trình “Quản trị logistics kinh doanh” của Đại học Thương mại (2011) [31] giới thiệu tổng quan về quản trị logistics kinh doanh, khái niệm và mục tiêu, mô hình quản trị logistics, các quá trình và chức năng logistics cơ bản. Sau đó, đi sâu vào nội dung quản trị logistics cụ thể như dịch vụ khách hàng, quản trị dự trữ, quản trị vận chuyển, quản trị các hoạt động logistics hỗ trợ, thực thi và kiểm soát logistics. Các tài liệu trên đã giới thiệu nhiều quan điểm, khái niệm và nội dung về logistics, nhưng đều tiếp cận ở góc độ vi mô. Phát triển theo hướng tiếp cận này còn có các Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ viết về hoạt động logistics nói chung và các khía cạnh nội dung của logistics nói riêng trong khuôn khổ một doanh nghiệp cụ thể.
Trong những năm vừa qua có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học cũng nghiên cứu về dịch vụ logistics, điển hình là Đề tài Logistics và khả năng áp dụng, phát triển logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Như Tiến (2004) [32], tập trung nghiên cứu khía cạnh dịch vụ vận tải, giao nhận hàng hoá. Công trình này cung cấp cái nhìn tổng quan về dịch vụ logistics nói chung và khả năng phát triển dịch vụ giao nhận hàng hóa ở Việt Nam. Cuốn sách “Quản lý logistics quốc tế” (PGS. Từ Sỹ Sùa, 2015) [39] cũng đã cho thấy cái nhìn khái quát trong hoạt động logistics.
Cụ thể, cuốn sách đã nêu bản chất của logistics nhằm giải quyết việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Qua đó, nhà quản lý cần phải hiểu được những yêu cầu của khách hàng trước khi phát triển và áp dụng một chiến lược logistics để đáp ứng những yêu cầu này. Logistics đề cập đến một quá trình quản lý có tính hệ thống của nhiều hoạt động riêng biệt. Quá trình quản lý này nhằm đem lại lợi ích từ giai đoạn sản xuất đến khách hàng.
Thông thường các lợi ích này tồn tại dưới dạng một sản phẩm hữu hình và phải được sản xuất, vận chuyển đến tận người tiêu dùng và những lợi ích này tồn tại dưới dạng vô hình nên được gọi là các dịch vụ. 9 Đề tài NCKH cấp Nhà nước “Phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế” (Đặng Đình Đào 2010) [21] tiến hành thu thập số liệu thông qua điều tra, phỏng vấn ở 10 tỉnh, thành phố trong cả nước, là công trình NCKH quy mô nhất cho đến nay liên quan đến logistics ở Việt Nam. Chủ yếu tập trung phân tích các dịch vụ logistics chính của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn Hà Nội. Kết quả nghiên cứu của đề tài được giới thiệu một cách đầy đủ và chi tiết trong sách chuyên khảo “Logistics - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” (Đặng Đình Đào, 2011) [20] và “Dịch vụ logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế” (2012) [22].
Năm 2014, có đề án phát triển dịch vụ Logistics trong lĩnh vực GTVT Việt Nam đến năm 2020 của Bộ GTVT và nghiên cứu của Bộ Công thương về việc phát triển ngành dịch vụ logistics. Tuy nhiên, phát triển khung chính sách toàn diện cho hệ thống logistics và vận tải đa phương thức vẫn chưa được đề cập trong các nghiên cứu này. Báo cáo của Ngân hàng thế giới (Kho vận hiệu quả - Chìa khóa để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, 2014) [48] xác định chi phí logistics của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực là do hoạt động thiếu hiệu quả và đồng bộ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Các dự án cơ sở hạ tầng giao thông vận tải được quy hoạch, xây dựng và phát triển riêng lẻ, không chủ trương tạo hành lang chiến lược, đa phương tiện, không dựa trên cơ sở phân tích hợp lý cung cầu đồng bộ và thống nhất.
Quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông hiện vẫn áp dụng mô hình đơn phương tiện, trong đó các đơn vị Cục/Tổng Cục (phụ trách cảng, đường thủy, cao tốc, đường sắt, đường hàng không) có các chức năng riêng. Gần đây nhất có báo cáo Nghiên cứu và định hướng chiến lược phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2030 của GIZ (2020) [26] tổng hợp thực trạng phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam qua các khía cạnh về thể chế chính sách, cơ sở hạ tầng vận tải, hệ thống thông tin, dịch vụ và doanh nghiệp dịch vụ logistics. Trên cơ sở các bài học kinh nghiệm của Thái Lan, Trung Quốc và Singapore, cũng như các phân tích về thách thức và cơ hội của Việt Nam để xác định quan điểm, định hướng, đề xuất chiến lược phát triển dịch vụ logistics đến năm 2030. Nghiên cứu không đề cập đến vận tải đa phương thức, vận tải container mà chú trọng nhiều hơn đến các dịch vụ logistics nội địa.
Có thể nói, số lượng các nghiên cứu chuyên sâu về tích hợp vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics vẫn còn hạn chế. Hầu hết các nghiên cứu tập trung trên khía cạnh dịch vụ vận tải và giao nhận hàng hóa.2 Các công trình nghiên cứu về vận tải đa phương thức Giáo trình “Giao nhận vận tải hàng hoá quốc tế” (Đinh Ngọc Viện, 2002) [40] là giáo trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế, cũng như các công tác xuất nhập khẩu hàng hóa nước ta. 10 Logistics được xem là quá trình quản lý chuỗi các hoạt động cung cấp có thể mang lại những chi phí thấp hơn, hay dịch vụ tốt hơn hoặc đạt được cả hai mục tiêu đó. Điều này làm gia tăng giá trị mà người mua nhận được, trong đó vận tải có một vai trò quan trọng trong hệ thống Logistics Quốc tế nói chung và Logistics trong nước nói riêng.
Bài báo Thực trạng loại hình vận tải đa phương thức trong ngành dịch vụ logistics ở Việt nam (2017) [41] cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của quá trình vận tải với quá trình sản xuất và lưu thông trong chuỗi cung ứng dịch vụ logistics. Bài viết cũng chỉ ra hiện trạng vận tải đa phương thức cũng như các cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ logistics của nước ta hiện nay. Qua đó đánh giá được những ưu, nhược điểm, các tồn tại hạn chế trong quá trình vận tải, xác định giải pháp nhằm đáp ứng thị trường vận tải hàng hóa trong nước và quốc tế cũng như sự phát triển kinh tế của quốc gia. Bài báo “Giải pháp phát triển vận tải đa phương thức và dịch vụ hậu cần ở Việt Nam” của ThS.
Trần Huy Bình (2019) [46] nêu tổng quan về đặc điểm và thực trạng phát triển VTĐPT và dịch vụ hậu cần của Việt nam chủ yếu trên phương diện xuất nhập khẩu hàng hóa. Từ đó, đề xuất một số giải pháp cho phát triển hệ thống. Một trong các nghiên cứu lớn về hệ thống giao thông vận tải toàn quốc là chương trình “Nghiên cứu tổng thể về phát triển giao thông Việt Nam - VITRANSS” của tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới liên quan hỗ trợ Bộ GTVT về phát triển đa phương thức (2013). Báo cáo hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ Giao thông Vận tải của ALG (2011) [49] có đề cập đến phương pháp xác định tổng chi phí logistics của Việt Nam, ứng dụng cho một số mặt hàng hóa điển hình.3 Các công trình nghiên cứu về quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp vận tải trong nước đã chủ động đầu tư công nghệ và đổi mới tổ chức quy trình vận tải nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh.
Về QLNN, hệ thống pháp luật trong VTHH đã liên tục được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với sự thay đổi môi trường kinh doanh. Về lý luận, quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước trong lĩnh vực vận tải đa phương thức nói riêng đã được các nhà nghiên cứu trong nước đề cập trên một số khía cạnh sau. Tác giả Bùi Minh Huấn nghiên cứu luận án “phương hướng biện pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với xây dựng giao thông” (1996) [9]. Trên cơ sở phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản lý xây dựng giao thông qua các thời kỳ trước và sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, nghiên cứu đã làm rõ thực chất và nội dung QLNN đối với xây dựng giao thông theo quá trình đầu tư và các chủ thể kinh doanh xây dựng giao thông.
Nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại chủ yếu trong hoạt động của từng loại chủ thể kinh doanh, sử dụng công cụ QLNN và phân chia chức năng trong bộ máy quản lý. 11 Tuy nhiên, kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp chưa được đề cập sâu và hệ thống. Luận án Quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước ở Việt Nam của tác giả Tạ Văn Khoái (2009) [42] nghiên cứu chủ yếu QLNN đối với dự án đầu tư xây dựng từ NSNN trên các giai đoạn của chu trình dự án gồm năm nội dung: hoạch định, xây dựng khung pháp luật, ban hành và thể chế, tổ chức bộ máy và kiểm tra, kiểm soát. Luận án đã chỉ ra ba nhóm nguyên nhân của những hạn chế, bất cập, trong đó có nguyên nhân chủ quan từ bộ máy, cán bộ quản lý.
Luận án cũng đã đưa ra các khái niệm chung về công tác quản lý nhà nước, tuy nhiên chỉ tập trung đối với dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước ở Việt Nam.