CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1. MỤC TIÊU VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1. Khái niệm, phân loại, đặc điểm, vai trò của các KCN 1.
Khái niệm về khu công nghiệp (KCN) KCN đã hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối thế kỷ XIX. Ban đầu các KCN được xem như là một mô hình quy hoạch phát triển công nghiệp và sau những năm 50 của thể kỷ XX thì sự phát triển của các KCN mới thật sự bùng nổ. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa được thừa nhận chung về KCN. Các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về KCN.
Theo UNIDO (1997), “ KCN được định nghĩa như một vùng đất có quy hoạch, được phát triển và chia ra thành các mảnh đất căn cứ theo một quy hoạch tổng thể, có hoặc không có các nhà xưởng được xây dựng trước, có hoặc không có công trình hỗ trợ dùng chung, là nơi tập trung các cơ sở công nghiệp ”. Trong quy chế KCN, khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao (KCNC), ban hành kèm theo nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ, KCN được định nghĩa như sau: “ Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của pháp luật ”.[10] Theo điều 3, khoản 11, Luật Đầu tư 2014 thì khu công nghiệp được định nghĩa như sau: “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”.[20] Luan van 9 Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh là cơ quan quản lý trực tiếp các khu công nghiệp, khu chế xuất trong phạm vi địa lý hành chính của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc Ban quản lý khu công nghiệp trên địa bàn liên tỉnh hoặc Ban quản lý một khu công nghiệp (trường hợp cá biệt) hoặc Ban quản lý khu công nghệ cao; do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Từ các khái niệm nêu trên, tại luận văn này thống nhất lựa chọn khái niệm KCN như sau: “ Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của pháp luật ”. Phân loại khu công nghiệp Tùy theo các góc độ tiếp cận, thì có một số cách phân loại KCN sau: Nhóm 1: Theo tính chất ngành nghề thì chia KCN ra làm 3 loại - KCN chuyên ngành: Chỉ thu hút các doanh nghiệp công nghiệp cùng một ngành hoặc một số ít ngành công nghiệp khác nhau, nhưng cùng sản xuất ra một số loại sản phẩm.
Đó thường là các ngành chủ đạo như: hóa chất – hóa dầu, điện tử - tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí. - KCN đa ngành: Thu hút doanh nghiệp thuộc nhiều ngành CN khác nhau. KCN đa ngành cho phép thỏa mãn được yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất CN, song trong quy hoạch xây dựng cần lưu ý vấn đề môi trường nhằm hạn chế tác động xấu giữa các xí nghiệp khác nhau và tiết kiệm đầu tư hạ tầng. - KCN sinh thái: Là mô hình mang tính cộng sinh CN.
Các ngành CN được lựa chọn sao cho các nhà máy có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ và tương tác với nhau tạo lên môi trường sạch và bền vững. Với mô hình KCN này thì phế liệu của nhà máy này có thể là nguyên liệu của nhà máy kia hoặc là sản phẩm của nhà máy này sẽ là nguyên liệu, vật tư của nhà máy kia. Nhóm 2: Theo quy mô hình thành 3 loại KCN là : lớn, vừa và nhỏ. Các chỉ tiêu phân bổ quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số vốn đầu tư, tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng.
Các khu công Luan van 10 nghiệp lớn được thành lập phải có quyết định của Thủ tướng chính phủ. Các khu công nghiệp vừa và nhỏ thuộc quyền quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố. Nhóm 3: Theo đặc điểm quản lý chia ra làm 3 loại KCN: - Khu công nghiệp mang tính truyền thống là một khu vực được quy hoạch mang tính liên vùng, liên lãnh thổ, có phạm vi ảnh hưởng sáng các vùng lân cận, xung quanh. Nó được công ty cơ sở hạ tầng sử dụng vào mục đích kinh doanh, công ty này có trách nhiệm bảo đảm hạ tầng kỹ thuật và xã hội của toàn bộ khu trong suốt quá trình tồn tại và phát triển.
- Khu chế xuất (KCX) là KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. - Khu công nghệ cao (KCNC) là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kĩ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm: nghiên cứu, triển khai Khoa học – Công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất. Đặc điểm các khu công nghiệp KCN hiện nay đều được hiểu là khu vực tập trung các doanh nghiệp, công nghiệp trong một khu vực có ranh giới xác định, sử dụng chung kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Về nguyên lý thì các doanh nghiệp trong KCN có ưu thế tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nên giá thuê hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội sẽ rẻ hơn so với đầu tư ở khu vực khác.
Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng một số ưu đãi riêng của Nhà nước và của địa phương cho những ngành và doanh nghiệp nào được khuyến khích phát triển. Nhà nước chỉ quy định những ngành và doanh nghiệp nào được khuyến khích phát triển và loại nào không được đặt trong KCN do yêu cầu bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh. Luan van 11 Khả năng hợp tác sản xuất giữa các doanh nghiệp trong KCN rất thuận lợi vì nằm trên một khu vực. KCN có Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế quản lý thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Với những đặc điểm cơ bản trên đây có thể thấy về thực chất KCN là một khu vực đặc biệt để thu hút đầu tư trong nước cũng như ngoài nước, áp dụng công nghệ mới, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, thúc đẩy xuất khẩu, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư vào những ngành và những vùng trọng điểm. Vai trò của các khu công nghiệp Việc hình thành và phát triển các KCN là một yêu cầu cần thiết đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Do đó, vai trò của các KCN trong phát triển kinh tế - xã hội được xác định ở một số khía cạnh sau: Thứ nhất, KCN góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ người lao động. KCN là nơi có rất nhiều lao động làm việc, có những lao động có sẵn trình độ tay nghề thích ứng với công việc tuy nhiên vẫn còn một lượng lớn lao động phổ thông cơ bản đã được kèm cặp và đào tạo theo yêu cầu của công nghệ và dây chuyền sản xuất.
Thông qua việc đào tạo và sử dụng lao động trong các KCN, trình độ và kỹ năng của người lao động được cải thiện. Thứ hai, thu hút vốn đầu tư tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển kinh tế: Để tăng trưởng và phát triển kinh tế, đòi hỏi phải có một lượng đầu tư rất lớn. Vốn trong nước chưa đủ đáp ứng nhu cầu đó, thu hút vốn đầu tư vào KCN là rất quan trọng vì nó phản ánh tiềm năng phát triển công nghiệp của mỗi nước, mỗi khu vực. Thứ ba, sự phát triển các KCN đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
Các KCN đã khẳng định vai trò rất quan trọng tác động và ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các khu đô thị. Chính hạt Luan van 12 nhân từ các KCN đã hình thành các khu đô thị mới, cùng các công trình hạ tầng xã hội đã đưa mạng lưới đô thị của thành phố ngày càng mở rộng và phát triển. Thứ tư, các KCN góp phần hình thành mối liên kết giữa các địa phương và nâng cao năng lực sản xuất ở từng vùng, miền. Mô hình các KCN chính là đầu tầu tăng trưởng kéo theo sự phát triển của các vùng lân cận và các cùng khác của đất nước.
Tầm quan trọng của KCN chính là ở tác động lan tỏa của nó đối với các vùng lân cận và cả nền kinh tế chứ không chỉ ở năng suất lao động hay thu nhập của người lao động tăng lên. Thứ năm, sự phát triển của các KCN thúc đẩy phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp. Việc phát triển các KCN có tăng động lan tỏa đến các hoạt động dịch vụ và ngược lại, các hoạt động dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất. Các dịch vụ như: Lĩnh vực tín dụng – ngân hàng, lĩnh vực dịch vụ bưu chính viễn thông, điện lực, dịch vụ logistics… Thứ sáu, các KCN góp phần phát triển kết cấu hạ tầng của đất nước.
Để thu hút đầu tư vào KCN tạo điều kiện cho nhà đầu tư triển khai nhanh dự án, ngoài các chính sách ưu đãi về tài chính. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào phải đồng bộ, hiện đại không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động mà còn có tác dụng kích thích sự phát triển của kinh tế địa phương nơi có KCN hoạt động.