Tổng quan nghiên cứu

Làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và tạo sinh kế bền vững tại Việt Nam. Tỉnh Bắc Ninh hiện sở hữu 62 làng nghề, trong đó có 53 làng nghề sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp với kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ toàn quốc đạt từ 1,5 đến 1,6 tỷ USD mỗi năm. Nằm tại vị trí cửa ngõ phía Đông Bắc Thủ đô Hà Nội với diện tích tự nhiên 6.133 ha, Thị xã Từ Sơn là trung tâm sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ nổi tiếng cả nước, thu hút 33.656 lao động trực tiếp vào năm 2015.

Tuy nhiên, công tác quản lý lao động tại các làng nghề mộc mỹ nghệ trên địa bàn còn tồn tại nhiều bất cập nghiêm trọng. Hơn 97,9% người lao động làm việc theo phương thức thỏa thuận miệng mà không có hợp đồng lao động bằng văn bản, và 94,0% lao động ngoại tỉnh chưa thực hiện đăng ký tạm trú theo quy định. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu đồng bộ giữa cơ chế quản lý nhà nước và thực tiễn điều hành nhân sự tại các cơ sở sản xuất tư nhân.

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý lao động làng nghề; phân tích thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nhân sự tại các cơ sở sản xuất; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Phạm vi không gian tập trung tại 3 địa bàn trọng điểm gồm phường Đồng Kỵ, xã Phù Khê và xã Hương Mạc. Phạm vi thời gian sử dụng số liệu thứ cấp giai đoạn 2013-2015 và số liệu khảo sát thực chứng năm 2016. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn lớn trong việc ổn định an sinh xã hội cho 60.070 lao động phi nông nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương đạt mức 10-16% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản trị nhân lực hiện đại kết hợp với lý thuyết quản lý nhà nước về thị trường lao động phi chính thức. Nghiên cứu tiếp thu kinh nghiệm quốc tế từ phong tràu "Mỗi làng một sản phẩm" của tỉnh Oita (Nhật Bản) về mô hình tuyển dụng gắn kết dài hạn, cùng 6 bài học từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc giúp nâng doanh thu bình quân hợp tác xã từ 43 triệu Won lên 2,3 tỷ Won nhờ đào tạo nhân lực tự quản.

Khung phân tích tập trung vào các khái niệm cốt lõi: làng nghề truyền thống, lao động thường xuyên, lao động thời vụ, và quản lý nhà nước về lao động. Cơ sở pháp lý căn cứ theo Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13, Nghị định 122/2015/NĐ-CP về mức lương tối thiểu vùng, và Nghị định 66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên để khảo sát 75 cơ sở sản xuất đồ gỗ trên tổng số 10.856 cơ sở tại địa bàn, bao gồm: 20 doanh nghiệp (chiếm 14,8% tổng số 135 doanh nghiệp hiện có), 25 hộ quy mô lớn (chiếm 4,6% tổng số 540 hộ lớn), và 30 hộ quy mô vừa và nhỏ (chiếm 0,3% tổng số 10.181 hộ nhỏ lẻ). Đồng thời, khảo sát trực tiếp 90 người lao động (phân bổ đều 30 người cho mỗi loại hình cơ sở).

Cỡ mẫu này được lựa chọn nhằm phản ánh đầy đủ tính đa dạng của các quy mô sản xuất có doanh thu từ 300 triệu đồng đến trên 1 tỷ đồng mỗi năm. Dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013-2015 được thu thập từ Phòng Thống kê và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Thị xã Từ Sơn. Phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh được sử dụng để phân tích tương quan giữa các biến số về tiền lương, thời gian làm việc, tỷ lệ ký kết hợp đồng lao động và mức độ tuân thủ an toàn vệ sinh lao động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lực lượng lao động tại các làng nghề mộc Từ Sơn tăng trưởng nhanh nhưng dịch chuyển mạnh về cơ cấu nguồn gốc. Tổng số lao động tăng từ 28.656 người năm 2013 lên 33.656 người năm 2015. Trong đó, lao động ngoại tỉnh tăng bình quân 11,5%/năm (đạt 18.766 người, chiếm 55,8%), vượt qua tỷ lệ 44,2% của lao động bản địa (14.890 người). Tuy nhiên, công tác quản lý cư trú bộc lộ lỗ hổng lớn khi có tới 94,0% lao động ngoại tỉnh (14.641 người năm 2015) không đăng ký tạm trú với cơ quan công an.

Thứ hai, quan hệ lao động mang tính phi chính thức chiếm tỷ lệ áp đảo. Trong năm 2015, có đến 97,9% lao động (32.950 người) làm việc không có hợp đồng lao động bằng văn bản. Trong số 2,1% lao động có ký hợp đồng (706 người), chỉ có 5,7% (40 người) được tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, còn lại 94,3% (666 người) không được hưởng chế độ bảo hiểm theo Điều 186 Bộ luật Lao động.

Thứ ba, thu nhập người lao động duy trì ở mức khá nhưng biến động theo thị trường. Mức tiền công thấp nhất đạt 6.000.000 đồng/tháng. Giá trị sản xuất mặt hàng hoành phi câu đối tăng vọt từ 23.560 chiếc năm 2013 lên 53.427 chiếc năm 2014 nhờ thị trường xuất khẩu, nhưng giảm xuống 34.923 chiếc năm 2015 do biến động kinh tế khu vực.

Thứ tư, điều kiện an toàn vệ sinh lao động chưa được đảm bảo. Hơn 90% lao động làm việc trong môi trường tiếp xúc trực tiếp với bụi gỗ mịn, tiếng ồn máy cưa và hóa chất phun sơn vecni độc hại mà không có phương tiện bảo hộ cá nhân đạt chuẩn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ mô hình sản xuất hộ gia đình mang tính phân tán, nơi chủ cơ sở thường cắt giảm chi phí bảo hộ và bảo hiểm nhằm tối đa hóa lợi nhuận trước mắt. Người lao động có tâm lý làm việc mùa vụ, chuộng nhận tiền mặt hơn là trích nộp bảo hiểm xã hội. Về phía quản lý nhà nước, việc kiểm tra liên ngành giữa Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an và cơ quan Bảo hiểm xã hội chỉ diễn ra định kỳ 1 lần mỗi năm nên hiệu lực răn đe còn yếu.

Tình trạng này tương đồng với các làng nghề kim khí tại Thạch Thất (Hà Nội), nơi ghi nhận trên 100 ca tai nạn lao động mỗi năm do thiếu bảo hộ. Dữ liệu nghiên cứu cho thấy việc trực quan hóa cơ cấu lao động qua biểu đồ phân tầng và bảng đối chiếu tỷ lệ tuân thủ hợp đồng là cơ sở khoa học để chính quyền địa phương tái cấu trúc chính sách quản lý nhân lực.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa hợp đồng lao động và mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội. Các chủ cơ sở sản xuất và doanh nghiệp cần chuyển đổi toàn bộ hình thức giao việc miệng sang ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động có hợp đồng lên mức 30-50% trong giai đoạn 2017-2020. Cơ quan Bảo hiểm xã hội Thị xã Từ Sơn cần áp dụng cơ chế thanh tra chuyên đề, xử phạt nghiêm các đơn vị trốn đóng bảo hiểm cho người lao động thường xuyên.

Thứ hai, thắt chặt quy trình quản lý nhân khẩu và cư trú. Công an Thị xã Từ Sơn phối hợp cùng UBND các phường Đồng Kỵ, xã Phù Khê và Hương Mạc thiết lập cơ chế khai báo tạm trú trực tuyến cho các chủ xưởng gỗ, kiểm tra định kỳ hàng tháng nhằm nâng tỷ lệ đăng ký tạm trú của lao động ngoại tỉnh từ 6,0% lên tối thiểu 80% trong vòng 2 năm.

Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo nghề theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cần phối hợp với các nghệ nhân và thợ cả mở các lớp truyền nghề linh hoạt tại xưởng sản xuất, hỗ trợ phụ cấp học nghề cho 500 đến 1.000 lao động trẻ mỗi năm nhằm duy trì lực lượng kế cận chất lượng cao.

Thứ tư, siết chặt kiểm định an toàn vệ sinh lao động. Đội thanh tra liên ngành cần duy trì tần suất kiểm tra 2 đến 4 đợt mỗi năm, bắt buộc 100% cơ sở sử dụng từ 10 lao động trở lên phải trang bị đầy đủ kính, khẩu trang chống độc, găng tay và bố trí khu vực phun sơn cách ly khu dân cư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước gồm Ủy ban nhân dân Thị xã Từ Sơn, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh và cơ quan Công an địa phương có thể sử dụng dữ liệu thực chứng để hoạch định chính sách quản lý cư trú, lao động nhập cư và an toàn vệ sinh công nghiệp tại 10 cụm công nghiệp làng nghề.

Nhóm chủ doanh nghiệp và hộ kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ có thể tham khảo các biểu mẫu quản trị nhân sự, quy trình ký kết hợp đồng và phương thức tính lương thưởng khoa học nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất, giảm thiểu rủi ro tranh chấp lao động và tai nạn nghề nghiệp.

Nhóm nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển và Xã hội học nông thôn có thể khai thác bộ số liệu khảo sát 75 cơ sở và 90 lao động như một tài liệu tham khảo đáng tin cậy về thị trường lao động làng nghề truyền thống.

Nhóm hiệp hội ngành nghề và các tổ chức xã hội có thể ứng dụng các đề xuất để xây dựng các chương trình đào tạo kỹ năng, bảo tồn bí quyết chạm khắc mỹ nghệ và thúc đẩy phong trào việc làm bền vững cho người lao động nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến 97,9% lao động làng nghề không ký hợp đồng lao động là gì? Tình trạng này xuất phát từ thói quen tuyển dụng theo quan hệ gia đình, công việc mang tính mùa vụ nông nhàn, và tâm lý né tránh trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội của các chủ xưởng nhỏ lẻ, trong khi người lao động chỉ quan tâm đến tiền công nhận ngay từ 6.000.000 đồng/tháng.

Tỷ lệ lao động ngoại tỉnh chiếm bao nhiêu và quản lý cư trú gặp rào cản gì? Lao động ngoại tỉnh chiếm 55,8% (18.766 người năm 2015), nhưng 94,0% không đăng ký tạm trú do phần lớn công nhân sáng đi tối về các tỉnh lân cận như Bắc Giang, Hà Nội, Hưng Yên, gây khó khăn lớn cho công tác kiểm tra của công an địa phương.

Thu nhập của người lao động tại làng nghề mộc Từ Sơn có ổn định không? Thu nhập bình quân dao động từ 6.000.000 đến trên 10.000.000 đồng/tháng tùy tay nghề. Mức thu nhập này phụ thuộc mạnh vào đơn hàng xuất khẩu, thể hiện qua sự sụt giảm sản lượng hoành phi câu đối từ 53.427 chiếc năm 2014 xuống 34.923 chiếc năm 2015.

Mức độ rủi ro an toàn lao động tại các cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ ra sao? Hơn 90% lao động thường xuyên tiếp xúc với bụi gỗ, tiếng ồn và hóa chất độc hại từ vecni. Rủi ro tai nạn do máy cưa, máy bào tự chế chắp vá rất phổ biến nhưng công tác trang bị bảo hộ cá nhân gần như bị chủ cơ sở bỏ ngỏ.

Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động trẻ cần triển khai thế nào để đạt hiệu quả? Cần lồng ghép chính sách hỗ trợ theo Quyết định 1956 với phương thức truyền nghề trực tiếp tại xưởng của các nghệ nhân, đồng thời cấp kinh phí trợ cấp ăn ở trong 3 tháng học nghề để thu hút thanh niên gắn bó với nghề truyền thống.

Kết luận

Luận văn đã làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về công tác quản lý nguồn nhân lực tại các làng nghề mộc mỹ nghệ Thị xã Từ Sơn giai đoạn 2013-2016. Dưới đây là 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý lao động làng nghề và tổng kết bài học kinh nghiệm phát triển nhân lực nông thôn từ Nhật Bản và Hàn Quốc.
  • Định lượng chính xác thực trạng lao động di cư với 55,8% là người ngoại tỉnh và tỷ lệ vi phạm đăng ký tạm trú lên tới 94,0%.
  • Phản ánh trung thực khoảng trống pháp lý khi 97,9% lao động không có hợp đồng lao động và 94,3% lao động có hợp đồng bị trốn đóng bảo hiểm xã hội.
  • Đánh giá chi tiết các nguy cơ tiềm ẩn về an toàn vệ sinh lao động với hơn 90% thợ mộc làm việc trong môi trường ô nhiễm khói bụi và hóa chất.
  • Xây dựng hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp giữa quản lý nhà nước và quản trị cơ sở nhằm bảo vệ quyền lợi cho hơn 33.656 lao động.

Trong lộ trình tiếp theo, chính quyền địa phương cần triển khai ngay đề án chuẩn hóa quan hệ lao động làng nghề giai đoạn 2017-2020. Các cơ sở sản xuất hãy chủ động chuyển đổi mô hình quản trị, ký kết hợp đồng lao động và trang bị bảo hộ đạt chuẩn để xây dựng thương hiệu đồ gỗ mỹ nghệ Từ Sơn phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.