Tổng quan nghiên cứu

Khai thác than là ngành công nghiệp trụ cột bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp hàng chục nghìn tỷ đồng vào ngân sách và giải quyết việc làm cho hơn một triệu lao động. Tỉnh Quảng Ninh hiện là trung tâm than đá lớn nhất cả nước với 43 mỏ và điểm khai thác chính, tổng trữ lượng đạt khoảng 10,5 tỷ tấn. Trong đó, mỏ than Lộ Trí thuộc Công ty Than Thống Nhất – TKV, đóng tại phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, là cơ sở khai thác hầm lò quy mô lớn với diện tích 4,7 km2 và công suất vận hành 2 triệu tấn than nguyên khai mỗi năm. Tuy nhiên, hoạt động khai thác quy mô công nghiệp tại đây đang tạo ra áp lực môi trường vô cùng nặng nề.

Theo ước tính kỹ thuật, với công suất 2 triệu tấn than mỗi năm, mỏ than Lộ Trí phát sinh hơn 2.000 tấn bụi lơ lửng hàng năm. Các công đoạn khoan nổ mìn, bốc xúc và vận chuyển phát tán lượng bụi TSP vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần, cá biệt lên tới 10 lần vào mùa khô. Đồng thời, nguồn nước thải hầm lò có độ pH dao động từ 3,5 đến 6,6, nồng độ COD và BOD5 vượt ngưỡng quy chuẩn từ 1,1 đến 2 lần, đặc biệt hàm lượng kim loại nặng như sắt (Fe) và mangan (Mn) vượt từ 6 đến 10 lần so với quy chuẩn môi trường hiện hành. Bên cạnh đó, nước thải sinh hoạt ghi nhận hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt từ 1,5 đến 2,2 lần.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm định lượng toàn diện các đặc tính lý hóa của chất thải rắn, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt và khí thải tại mỏ than Lộ Trí. Mục tiêu trọng tâm là đánh giá mức độ suy thoái môi trường đối với các thủy vực tiếp nhận như suối Ngô Quyền, mương Anpha và các khu dân cư lân cận. Trên cơ sở dữ liệu quan trắc giai đoạn 2016 - 2018 kết hợp lấy mẫu bổ sung năm 2019, luận văn thiết lập hệ thống giải pháp quản lý chất thải chuyên sâu, góp phần giảm thiểu ô nhiễm và thúc đẩy mô hình khai thác than bền vững tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chuyển hóa vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái công nghiệp kết hợp lý thuyết sức tải môi trường vùng mỏ. Quá trình khai thác than hầm lò giải phóng các chất thải dạng khí, lỏng và rắn vào môi trường tự nhiên thông qua các chu trình xáo trộn địa chất. Luận văn tiếp cận mô hình hình thành nước ngập mỏ axit (Acid Mine Drainage - AMD), lý giải cơ chế khoáng vật sulfide trong vỉa than bị oxy hóa khi tiếp xúc với không khí và nước ngầm, làm phát sinh ion kim loại nặng và axit hóa nguồn nước.

Các khái niệm then chốt được sử dụng xuyên suốt nghiên cứu gồm:

  1. Nhu cầu oxy hóa học (COD) và Nhu cầu oxy sinh học (BOD5): Phản ánh mức độ ô nhiễm hợp chất hữu cơ trong nước thải sản xuất và sinh hoạt.
  2. Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và Tổng bụi lơ lửng (TSP): Chỉ thị mức độ ô nhiễm hạt cơ học trong môi trường nước và khí quyển.
  3. Tải lượng ô nhiễm kim loại nặng: Định lượng mức độ tích tụ sắt (Fe) và mangan (Mn) trong các dòng thải mỏ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thiết lập mạng lưới quan trắc thực địa toàn diện với cỡ mẫu đồng bộ:

  • Môi trường không khí: Lấy mẫu tại 18 vị trí (K1 đến K18) bao gồm tuyến vận chuyển, trạm sàng +110, máng rót +13, mặt bằng +41, cửa lò và các khu dân cư tiếp giáp như phố Lán Ga, phố Ngô Quyền. Mẫu khí được thu thập ở độ cao 1,5 mét bằng thiết bị SIBATA MP-∑300N II vào khung giờ cao điểm từ 8h đến 9h sáng.
  • Môi trường nước thải sản xuất: Lấy mẫu tại 4 điểm (NT1, NT2 tại Trạm xử lý nước thải +41; NT3, NT4 tại Trạm xử lý nước thải +25) nhằm đánh giá chất lượng trước và sau lắng.
  • Môi trường nước mặt: Quan trắc tại 2 điểm tiếp nhận trực tiếp gồm suối Ngô Quyền (NM1) và mương Anpha (NM2).
  • Nước thải sinh hoạt: Thu thập mẫu tại 4 cửa xả (NTSH1 đến NTSH4) tại mặt bằng sân công nghiệp, khu văn phòng, nhà Cẩm Thành và trại tăng gia.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng không gian giúp phản ánh chính xác nguồn phát thải từ các công đoạn sản xuất. Mẫu nước được lấy theo tiêu chuẩn TCVN 6663-1:2011 và bảo quản bằng axit HNO3 (phân tích kim loại) hoặc H2SO4 (phân tích COD, Phospho) theo TCVN 6663-3:2016. Phân tích định lượng được thực hiện tại phòng thí nghiệm đạt chuẩn VILAS 369 bằng thiết bị đo quang phổ UV-VIS HACH DR6000, máy phổ phát xạ nguyên tử ICP và phương pháp trọng lượng chuẩn hóa theo SMEWW 2540D:2005. Quá trình xử lý chuỗi số liệu giai đoạn 2016 - 2018 và mẫu kiểm chứng 2019 được thực hiện qua phần mềm thống kê chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ ô nhiễm bụi không khí diễn ra nghiêm trọng tại các khu vực sản xuất tập trung. Nồng độ bụi TSP tại trạm sàng +110 (K4) và máng rót đá +13 (K6) luôn vượt tiêu chuẩn cho phép từ 200% đến 300%. Hoạt động nổ mìn phá vỡ 1 m3 đất đá phát sinh từ 0,027 đến 0,17 kg bụi, trong khi mỗi 1.000 tấn than hầm lò tạo ra 11 đến 12 kg bụi mịn. Vào những thời điểm độ ẩm không khí giảm xuống 59,4% kết hợp với lượng gió hanh khô, nồng độ TSP tại một số điểm đo vượt giới hạn quy chuẩn lên tới 10 lần.

Thứ hai, nước thải hầm lò mang đặc trưng axit hóa mạnh và ô nhiễm kim loại nặng vượt trội. Trước khi qua hệ thống xử lý, nguồn nước tại vị trí NT1 (trạm +41) và NT3 (trạm +25) ghi nhận chỉ số pH dao động từ 3,5 đến 6,6, chứa hàm lượng sunfat natri và magie cao. Nồng độ sắt (Fe) và mangan (Mn) hòa tan vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia từ 6 đến 10 lần (vượt 600% - 1000%). Chỉ số COD và BOD5 trong nước thải công nghiệp cao hơn ngưỡng cho phép từ 1,1 đến 2,0 lần.

Thứ ba, chất lượng nước thải sinh hoạt và nước mặt tiếp nhận suy giảm rõ rệt. Nước thải sinh hoạt tại các cửa xả NTSH1 đến NTSH4 có hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS vượt quy chuẩn từ 150% đến 220%. Hai nguồn tiếp nhận là suối Ngô Quyền và mương Anpha chịu tải lượng bồi lắng cao, gia tăng độ đục mạnh mẽ trong mùa mưa khi lượng mưa trung bình năm đạt 2437 mm (tháng cao điểm ghi nhận tới 1089 mm).

Thứ tư, đất đá thải tại các bãi đổ gây thoái hóa đất nghiêm trọng. Đất bãi thải có độ pH chỉ từ 3,47 đến 3,8, rất chua và nghèo dinh dưỡng với hàm lượng mùn chỉ đạt từ 0,32% đến 0,53%. Khả năng giữ ẩm của đất tầng mặt rất thấp, làm triệt tiêu thảm thực vật tự nhiên và gây nguy cơ sạt lở cao.

Thảo luận kết quả

Hiện tượng axit hóa và phát tán kim loại nặng trong nước thải hầm lò xuất phát trực tiếp từ các đới đứt gãy kiến tạo F cắt qua tầng chứa nước trầm tích. Nước mưa thẩm thấu hòa tan khoáng chất quặng sulfide, giải phóng ion Fe2+, Fe3+ và Mn2+ tự do. Sự gia tăng nồng độ TSP và khí độc CO, NO2 tại các mặt bằng sản xuất liên quan trực tiếp đến công nghệ vận tải bằng xe tự đổ và hệ thống sàng tuyển lộ thiên chưa kín khít.

So sánh với các nghiên cứu tại bể than Quảng Ninh như mỏ Mạo Khê và Vàng Danh, mỏ than Lộ Trí có mức độ tích tụ kim loại nặng trong nước ngầm cao hơn do đặc thù tầng đứt gãy dập vỡ phức tạp. Về mặt trình bày dữ liệu, các chuỗi biến thiên nồng độ TSP, COD, Fe và Mn qua các năm (2016 - 2019) được mô hình hóa tối ưu qua các biểu đồ đường thể hiện xu hướng thời gian, kết hợp bảng ma trận so sánh chất lượng nguồn nước tại các vị trí đầu vào và đầu ra của trạm xử lý. Các biểu đồ cột trực quan hóa tỷ lệ phần trăm vượt ngưỡng quy chuẩn giúp minh họa rõ nét hiệu quả của từng công đoạn lắng lọc.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Nâng cấp hệ thống xử lý nước thải hầm lò tại trạm +41 và trạm +25: Áp dụng quy trình trung hòa kiềm hóa kết hợp keo tụ tạo bông bằng hóa chất PAC và PAM, bổ sung bãi lọc sinh học ngập nước nhân tạo. Mục tiêu đạt hiệu suất khử sắt và mangan trên 95%, hạ nồng độ các thông số về dưới ngưỡng QCVN 40:2011/BTNMT (cột B). Kế hoạch thực hiện trong thời gian 12 tháng, do Công ty Than Thống Nhất – TKV chủ trì đầu tư và vận hành.

  2. Hiện đại hóa hệ thống dập bụi và kiểm soát khí thải: Lắp đặt mạng lưới phun sương cao áp dập bụi tự động tại trạm sàng +110, cụm song sàng +52 và máng rót +13; thực hiện tưới ẩm định kỳ 4 lần mỗi ngày trên các tuyến đường vận chuyển than nội bộ; che phủ bạt kín 100% các phương tiện vận tải. Mục tiêu giảm thiểu 70% lượng bụi phát tán, đưa nồng độ TSP về dưới 0,3 mg/m3 trong vòng 6 tháng, dưới sự giám sát của Phòng Môi trường mỏ than Lộ Trí.

  3. Phục hồi sinh thái và chống xói mòn bãi đổ thải: Tiến hành san gạt bãi thải theo phương pháp phân tầng giật cấp dạng bậc thang; bổ sung lớp đất màu hữu cơ dày tối thiểu 30 cm; trồng thảm cỏ Vetiver kết hợp cây keo lai nhằm cố định bề mặt, chống sạt lở. Mục tiêu nâng độ pH của đất bãi thải từ 3,5 lên trên 5,5 và đạt tỷ lệ che phủ thảm thực vật trên 80% trong lộ trình 24 tháng, phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh.

  4. Xây dựng mạng lưới quan trắc tự động liên tục: Lắp đặt 02 trạm quan trắc nước thải tự động tại cửa xả trạm +41, +25 và 01 trạm quan trắc không khí tự động tại mặt bằng sân công nghiệp trung tâm. Dữ liệu quan trắc truyền trực tiếp 24/7 về Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Quảng Ninh, hoàn thiện trong thời gian 9 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban lãnh đạo và cán bộ quản lý môi trường tại các doanh nghiệp ngành than: Sử dụng dữ liệu thực tế để xây dựng phương án giảm thiểu phát thải bụi, tối ưu hóa công nghệ xử lý nước thải mỏ axit và tính toán chi phí vận hành bảo vệ môi trường hằng năm.

  2. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Sử dụng các kết quả phân tích nồng độ Fe, Mn, TSP làm căn cứ thực tiễn phục vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cấp phép xả thải và thanh tra, kiểm tra định kỳ tại các mỏ than khu vực Cẩm Phả.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Môi trường: Tham khảo khung phương pháp luận kết hợp quan trắc thực địa, kỹ thuật phân tích theo chuẩn SMEWW và TCVN, cùng bộ dữ liệu quan trắc nhiều năm phục vụ giảng dạy và nghiên cứu mở rộng.

  4. Các đơn vị tư vấn và thiết kế công trình bảo vệ môi trường: Ứng dụng quy trình công nghệ đề xuất gồm hệ thống xử lý trung hòa keo tụ và giải pháp phục hồi sinh thái bằng cỏ Vetiver vào các dự án hoàn nguyên mỏ thực tế.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nguồn phát sinh bụi lớn nhất tại mỏ than Lộ Trí đến từ công đoạn nào? Nguồn phát sinh bụi lớn nhất tập trung tại các khâu sàng tuyển than, máng rót than đá và tuyến đường giao thông nội bộ. Với sản lượng 2 triệu tấn than mỗi năm, mỏ phát sinh hơn 2.000 tấn bụi/năm; nồng độ TSP tại trạm sàng +110 và máng rót +13 thường xuyên vượt giới hạn cho phép từ 2 đến 3 lần.

  2. Tại sao nước thải hầm lò tại mỏ Lộ Trí lại có hàm lượng sắt và mangan rất cao? Nước ngầm thẩm thấu qua các đới đứt gãy địa chất tiếp xúc với các vỉa than chứa khoáng sulfide. Quá trình oxy hóa tự nhiên tạo ra môi trường axit với pH từ 3,5 đến 6,6, hòa tan mạnh mẽ các khoáng vật chứa kim loại, khiến hàm lượng Fe và Mn trong nước thải vượt tiêu chuẩn môi trường từ 6 đến 10 lần.

  3. Nước thải sinh hoạt tại khu vực mỏ có gây nguy cơ ô nhiễm lớn không? Nước thải sinh hoạt tại 4 cửa xả chính ghi nhận hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS vượt quy chuẩn từ 1,5 đến 2,2 lần. Nếu không được thu gom và lắng lọc qua các bể tự hoại đúng quy chuẩn, nguồn thải này sẽ kết hợp với dòng chảy mặt gây bồi lắng và ô nhiễm hữu cơ tại suối Ngô Quyền.

  4. Giải pháp sinh học nào hiệu quả nhất để phục hồi đất bãi thải mỏ than? Phương pháp san tầng kết hợp phủ lớp đất mặt và trồng cỏ Vetiver mang lại hiệu quả cao nhất. Giải pháp này giúp giữ đất, chống sạt lở trong mùa mưa (lượng mưa 2437 mm/năm), từng bước nâng độ pH đất từ mức 3,47 - 3,8 lên trên 5,5 và tăng độ ẩm đất tầng mặt.

  5. Độ tin cậy của chuỗi số liệu phân tích trong luận văn được bảo đảm như thế nào? Số liệu được thu thập từ mạng lưới 18 điểm khí và 10 điểm nước qua giai đoạn 2016 - 2018 và kiểm chứng năm 2019. Toàn bộ quy trình lấy mẫu, bảo quản và phân tích tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn TCVN, SMEWW tại phòng thí nghiệm đạt chuẩn VILAS 369.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng toàn diện đặc trưng phát thải từ mỏ than Lộ Trí với công suất 2 triệu tấn than/năm, xác định lượng bụi phát sinh trên 2.000 tấn/năm cùng nồng độ Fe, Mn trong nước thải mỏ vượt quy chuẩn 6 đến 10 lần.
  • Đánh giá chi tiết sự suy giảm chất lượng các thủy vực tiếp nhận gồm suối Ngô Quyền và mương Anpha, cùng mức độ thoái hóa axit nghiêm trọng của đất bãi thải với độ pH từ 3,47 đến 3,8.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ: nâng cấp trạm xử lý nước thải đạt hiệu suất trên 95%, dập bụi tự động giảm 70% TSP, hoàn nguyên bãi thải bằng cỏ Vetiver và tự động hóa quan trắc môi trường.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và bộ dữ liệu thực nghiệm chuẩn hóa (2016 - 2019) có giá trị ứng dụng cao cho công tác quản lý môi trường ngành khai khoáng tại Quảng Ninh.
  • Khuyến nghị Công ty Than Thống Nhất – TKV phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng địa phương triển khai ngay lộ trình xử lý môi trường trong 12 đến 24 tháng tới nhằm bảo đảm phát triển công nghiệp than hài hòa với bảo vệ hệ sinh thái.