Tổng quan nghiên cứu

Tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, vùng trọng điểm năng lượng với trữ lượng than đá ước tính trên 3 tỷ tấn (chiếm hơn 35,7% trong tổng số 8,4 tỷ tấn than toàn tỉnh), áp lực từ hoạt động khai khoáng lên môi trường tự nhiên đang diễn ra vô cùng gay gắt. Xưởng khai thác và chế biến than đá thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Quan trắc và Mô hình hóa Môi trường sau 10 năm hoạt động đã ghi nhận quy mô sản lượng đạt khoảng 15.000 tấn than mỗi năm, tăng gấp 10 lần so với năm 2005. Hoạt động sản xuất liên tục 24/24 giờ làm phát sinh lượng bụi, nước thải và chất thải rắn đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái ven bờ vịnh Bái Tử Long và đời sống của 195.800 cư dân địa phương.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại xưởng, từ đó đề xuất mô hình hệ thống quản lý môi trường chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001. Phạm vi đề tài tập trung tại xưởng khai thác và chế biến than Cẩm Phả trên địa bàn 486,45 km² của thành phố, với thời gian thu thập dữ liệu từ tháng 1/2015 đến tháng 12/2015. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp giải pháp giảm thiểu 90% lượng bụi phát tán vượt ngưỡng, kiểm soát 100% dòng thải nguy hại và tối ưu 20% chi phí vận hành qua quy trình cải tiến liên tục, tạo tiền đề thúc đẩy mô hình khai thác khoáng sản bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn dựa trên nền tảng triết học về mối quan hệ thống nhất giữa Tự nhiên, Con người và Xã hội cùng lý thuyết Kinh tế môi trường hiện đại. Hệ thống quản lý môi trường ISO 14001 được xây dựng theo mô hình chu trình PDCA kinh điển gồm Lập kế hoạch (Plan), Thực hiện (Do), Kiểm tra (Check) và Hành động (Act), thúc đẩy triết lý cải tiến liên tục trong sản xuất. Các khái niệm cốt lõi bao gồm: Hệ thống quản lý môi trường (EMS) theo tiêu chuẩn TCVN ISO 14001:2010; Khía cạnh môi trường (yếu tố trong hoạt động có thể tương tác với môi trường); Tác động môi trường (mọi biến đổi môi trường do doanh nghiệp gây ra); Kiểm soát điều hành và Hành động khắc phục phòng ngừa. Thống kê của tổ chức ISO cho thấy tính đến cuối năm 2014 đã có hơn 250.972 chứng chỉ ISO 14001 được cấp tại 155 quốc gia, khẳng định vai trò thiết yếu của bộ công cụ quản lý này.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp trong suốt 12 tháng năm 2015. Về dữ liệu thứ cấp, tác giả thu thập chuỗi số liệu quan trắc từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2014 và báo cáo đánh giá tác động môi trường của doanh nghiệp. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thực hiện điều tra với cỡ mẫu 50 phiếu khảo sát, gồm 20 phiếu cho cán bộ công nhân viên tại xưởng và 30 phiếu cho các hộ dân lân cận trong bán kính 50m.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được lựa chọn nhằm phản ánh khách quan góc nhìn của cả đối tượng trực tiếp sản xuất lẫn cộng đồng chịu tác động môi trường. Tác giả đã tiến hành 12 đợt khảo sát thực tế và lấy mẫu nước ngày 21/7/2015 để phân tích các chỉ tiêu pH, COD, BOD, TSS tại phòng thí nghiệm chuyên ngành. Dữ liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel, kết hợp phương pháp so sánh đối chiếu chuẩn cứ ISO 14001 với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 05:2013 và QCVN 40:2011, giúp nhận diện chính xác các khoảng trống quản trị của xưởng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nồng độ bụi không khí tại khu vực sản xuất từng ở mức báo động năm 2010 với hàm lượng bụi tại hố nhận than đạt 7.040 microgam/m³, vượt hơn 35 lần quy chuẩn. Dù đến năm 2014 đã giảm 95,8% xuống còn 290 microgam/m³, chỉ số này vẫn vượt 1,45 lần so với QCVN 05:2013 (ngưỡng 200 microgam/m³). Khảo sát thực tế cho thấy 100% cán bộ và người dân lân cận khẳng định môi trường bị ô nhiễm không khí do bụi than, trong đó 20% công nhân và 24% người dân đánh giá ở mức rất ô nhiễm.

Thứ hai, chất lượng nước mặt ven bờ có nguy cơ ô nhiễm cục bộ. Mẫu phân tích ngày 21/7/2015 tại cống xả chung ra biển ghi nhận chỉ số TSS đạt 171 mg/l (vượt 1,71 lần giới hạn 100 mg/l của QCVN 40:2011), COD đạt 154 mg/l và BOD đạt 64 mg/l, cao hơn cống nội bộ xưởng khoảng 23% đến 31%.

Thứ ba, công tác thu gom chất thải nguy hại còn tiềm ẩn rủi ro. Thống kê quý I năm 2016 ghi nhận xưởng phát sinh 657 kg dầu mỡ thải (tháng 1: 215 kg, tháng 2: 189 kg, tháng 3: 253 kg) và 37 bình ắc quy chì hỏng. Có tới 75% công nhân và 70% cư dân lo ngại về nguy cơ ô nhiễm thứ cấp từ chất thải.

Thứ tư, quản trị môi trường nội bộ còn nhiều lỗ hổng. Phòng Môi trường gồm 5 nhân sự (3 thạc sĩ, 1 kỹ sư, 1 cử nhân) chủ yếu mới làm nhiệm vụ theo dõi, quan trắc định kỳ 2 lần/năm, chưa thiết lập chính sách môi trường chính thức và thiếu các quy trình kiểm soát theo tiêu chuẩn ISO 14001.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính khiến nồng độ bụi và chất rắn lơ lửng vượt chuẩn bắt nguồn từ công nghệ khai thác mỏ lộ thiên, dây chuyền sàng tuyển hở và nước mưa chảy tràn cuốn theo bột than mịn đổ thẳng ra biển. Hiện trạng này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu khai khoáng tại vùng than Đông Bắc, nơi bụi lắng và trầm tích than luôn là áp lực môi trường lớn nhất.

Dữ liệu quan trắc không khí và chất lượng nước giai đoạn 2010-2015 có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột kép so sánh thực trạng với giới hạn quy chuẩn và bảng ma trận đánh giá khía cạnh môi trường theo chu trình PDCA. Việc thiếu cam kết lãnh đạo giải thích vì sao dù 100% nhân viên biết có quy định nội bộ nhưng 90% người dân chỉ nhận biết công ty qua hoạt động trồng 15.000 cây trên 6 ha bãi thải. Áp dụng ISO 14001 là giải pháp tất yếu giúp chuyển đổi từ thế bị động sang chủ động kiểm soát rủi ro.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành chính sách môi trường và lập ban chỉ đạo ISO: Ban Giám đốc phê duyệt chính sách môi trường chính thức và thành lập nhóm chuyên trách EST gồm 7 thành viên chủ chốt trong quý I năm 2016, hướng tới mục tiêu 100% cán bộ công nhân viên nắm vững cam kết ngăn ngừa ô nhiễm.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình kiểm soát khía cạnh môi trường: Phòng Môi trường phối hợp chuyên gia tư vấn BSI xây dựng 12 quy trình kiểm soát vận hành cụm sàng tuyển và hố nhận than trong 6 tháng (từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2016), đặt mục tiêu giảm 85% nồng độ bụi xuống dưới mức 200 microgam/m³ theo QCVN 05:2013.

Thứ ba, nâng cấp hệ thống xử lý nước mưa và chất thải: Đội cơ điện tiến hành nạo vét 100% hệ thống mương cống, lắp đặt bổ sung 2 hố lắng bùn than tại cửa xả tiểu ngạch từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2016, đảm bảo 100% mẫu nước thải sau lắng đạt chỉ tiêu TSS dưới 100 mg/l theo QCVN 40:2011.

Thứ tư, đào tạo nhận thức và triển khai đánh giá thử nghiệm: Nhóm chuyên trách ISO tổ chức 4 khóa đào tạo cho toàn bộ 96 cán bộ công nhân viên trong quý III năm 2016, đảm bảo 95% nhân sự đạt chuẩn nhận thức, hoàn thiện hồ sơ để đánh giá cấp chứng nhận với kinh phí dự kiến 4.700 USD trong quý IV năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban lãnh đạo hơn 50 doanh nghiệp khai thác than tại Quảng Ninh: Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn giúp doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý môi trường chuẩn mực, tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí xử lý sự cố và gia tăng năng lực cạnh tranh khi xuất khẩu khoáng sản.

Thứ hai, các chuyên gia tư vấn và tổ chức đánh giá ISO 14001: Công trình là case study thực chứng về khai khoáng lộ thiên, hỗ trợ rút ngắn thời gian tư vấn từ 15 tháng xuống còn 8 đến 12 tháng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ quy mô dưới 150 lao động.

Thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường địa phương: Nguồn dữ liệu thực nghiệm từ 50 phiếu điều tra và chuỗi quan trắc 5 năm tại Cẩm Phả giúp cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách giám sát và định hướng doanh nghiệp chuyển đổi xanh.

Thứ tư, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Môi trường: Đề tài cung cấp phương pháp luận nghiên cứu khoa học, hệ thống biểu mẫu khảo sát thực địa và bộ số liệu phân tích chuẩn mực phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 mang lại lợi ích kinh tế nào cho xưởng khai thác than? Hệ thống giúp tối ưu hóa định mức tiêu hao nhiên liệu, giảm thiểu thất thoát than và tiết kiệm tới 20% chi phí xử lý chất thải. Ngoài ra, việc vận hành chuẩn mực giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro pháp lý và tránh các khoản phạt vi phạm hành chính về môi trường.

  2. Nguyên nhân khiến hàm lượng bụi tại khu vực sản xuất vượt quy chuẩn là gì? Đặc thù khai thác lộ thiên và công đoạn sàng tuyển phát tán lượng bụi than lớn trong không gian mở. Báo cáo năm 2014 ghi nhận nồng độ bụi tại hố nhận than là 290 microgam/m³, vượt ngưỡng 200 microgam/m³ do thiếu hệ thống phun sương dập bụi tự động.

  3. Doanh nghiệp quy mô dưới 100 lao động gặp khó khăn gì khi triển khai ISO 14001? Rào cản lớn nhất là chi phí tư vấn và chứng nhận khoảng 4.700 USD cùng sự thiếu hụt chuyên môn của nhân sự. Khảo sát cho thấy 96 cán bộ công nhân viên tại xưởng ban đầu còn bỡ ngỡ với các thủ tục tư liệu hóa và kỹ năng nhận diện khía cạnh môi trường.

  4. Nước mưa chảy tràn tại mặt bằng chế biến than tác động thế nào đến môi trường nước? Nước mưa cuốn trôi bùn than làm gia tăng hàm lượng cặn lơ lửng. Kết quả phân tích mẫu nước ngày 21/7/2015 tại cống thải chung ghi nhận chỉ số TSS đạt 171 mg/l, vượt quy chuẩn 100 mg/l của QCVN 40:2011, làm tăng độ đục của nước biển ven bờ.

  5. Thời gian cần thiết để một doanh nghiệp than xây dựng hoàn chỉnh ISO 14001 là bao lâu? Doanh nghiệp xây dựng mới cần khoảng 15 tháng. Tuy nhiên, với đơn vị đã có 10 năm hoạt động và ban hành sẵn một số quy chế nội bộ như xưởng than Cẩm Phả, tiến trình có thể rút ngắn xuống còn 8 đến 12 tháng.

Kết luận

  • Đánh giá xác thực hiện trạng môi trường tại xưởng than công suất 15.000 tấn/năm, chỉ ra nồng độ bụi 290 microgam/m³ và chỉ số TSS 171 mg/l còn vượt quy chuẩn.
  • Làm rõ năng lực quản lý và 6 điểm nghẽn của 96 cán bộ công nhân viên công ty theo các điều khoản tiêu chuẩn ISO 14001.
  • Thiết lập mô hình hệ thống quản lý môi trường hoàn chỉnh theo chu trình PDCA phù hợp đặc thù ngành khai thác than.
  • Đề xuất lộ trình 4 bước triển khai thực tiễn trong 12 tháng năm 2016 với ngân sách dự kiến khoảng 4.700 USD.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho hơn 50 doanh nghiệp khoáng sản trên địa bàn thành phố Cẩm Phả.

Đóng góp cốt lõi của luận văn là chuyển đổi phương thức quản lý môi trường từ ứng phó thụ động sang kiểm soát chủ động. Doanh nghiệp cần khẩn trương kiện toàn nhóm chuyên trách EST trong giai đoạn 2016-2020 để vận hành hệ thống hiệu quả. Quý bạn đọc hãy tham khảo toàn văn công trình để ứng dụng mô hình quản trị môi trường tiên tiến ngay hôm nay.