phần mở đầu và kết luận khóa luận có cấu trúc nội dung gồm hai chƣơng. Chƣơng 1: ơ sở dẫn đến mối quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn thế kỷ XIX. Ở chƣơng này chủ yếu làm rõ những vấn đề về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của hai nƣớc Việt – Xiêm thế kỷ XIX và khái quát 7 đƣợc mối quan hệ Việt – Xiêm trƣớc thế kỷ XIX. Chƣơng này có ý nghĩa rất quan trọng trong toàn bộ khóa luận, nó cung cấp đƣợc đặc điểm, bản chất của từng nƣớc trong quá trình thiết lập mối quan hệ ngoại giao, làm rõ mối quan hệ bang giao của Việt – Xiêm trƣớc thế kỷ XIX, khắc họa đƣợc sâu sắc những chuyển biến về kinh tế - xã hội và sức mạnh quân sự của Việt – Xiêm, cho thấy hai nƣớc đều có thế lực cân bằng với nhau, đồng thời đây còn là những nội dung cơ bản chi phối xuyên suốt trong khóa luận.
Chƣơng 2: Quan hệ Việt –Xiêm thời vương triều Nguyễn thế kỷ XIX. Chƣơng này chủ yếu làm rõ bối cảnh của khu vực Đông Nam Á và các yếu tố tác động đến mối quan hệ Việt – Xiêm nhƣ Chân Lạp – Lào, Hà Tiên đây là các nhân tố chính làm cho quan hệ ngoại giao giữa hai nƣớc ngày càng có những diễn biến phức tạp qua từng thời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị; từ đó sẽ nhận thức bản chất những biến đổi phức tạp trong việc tranh giành ảnh hƣởng, mở rộng chủ quyền lãnh thổ của quốc gia. Chƣơng 2 trình bày nội dung chính của khóa luận, giúp làm rõ hơn về sự thay đổi của quan hệ Việt – Xiêm, qua đây còn muốn nhắc nhở, giáo dục mọi ngƣời nên biết tôn trọng, bảo vệ tốt đẹp những gì đã có trong suốt quá trình lịch sử mới xây dựng đƣợc, nên xây dựng mối quan hệ thân thiện, hữu nghị, không nên sử dụng chiến tranh để mở rộng thế lực của nƣớc mình mà hãy cố gắng tạo ra những mối quan hệ thân thiện và hữu nghị, góp phần xây dựng và đƣa đất nƣớc phát triển. 8 NỘI DUNG Chƣơng 1: Cơ sở dẫn đến mối quan hệ Việt – Xiêm thời vƣơng triều Nguyễn thế kỷ XIX 1.
Nƣớc Việt trong thế kỷ XIX 1. Tình hình kinh tế - xã hội Vào năm 1802 sau khi đánh bại hoàn toàn quân Tây Sơn Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long (1802-1883), chính thức thành lập vƣơng triều Nguyễn. Năm 1803, triều Nguyễn đƣợc nhà Thanh chính thức phong vƣơng và đổi tên nƣớc thành Việt Nam vào năm 1804. Từ đây, triều Nguyễn đã bắt đầu làm chủ một đất nƣớc Việt Nam rộng lớn thống nhất từ Nam Quan đến mũi Cà Mau.
Sau khi lên ngôi hoàng đế vua Gia Long đã không ngừng quan tâm việc khai hoang mở rộng diện tích đất đai cho nông dân canh tác. Đến năm 1836, thời vua Minh Mạng đã khai thác đƣợc 4.892 mẫu ruộng, trong khi đó ruộng đất thuộc sỡ hữu của nhà nƣớc chỉ có 580.363 mẫu, số còn lại là ruộng tƣ các loại, duy trì và mở rộng diện tích ruộng đất công cho dân. Để tăng cƣờng mở rộng diện tích đất đai canh tác cho nông dân, triều Nguyễn đã thực hiện chế độ quân điền chia đều ruộng đất công cho dân canh tác. Năm 1840, vua Minh Mệnh đã điều chỉnh lại phép quân điền: “Tất cả quan lại, quân lính và dân thƣờng đều nhận số phần nhƣ nhau là 01 phần, các đối tƣợng khác nhận bằng 1/2 phần (lão nhiêu, lão hạng, phế tật, đốc tật) hoặc 1/3 phần (cô nhi, quả phụ)”1.
Qua đây ta có thể thấy đƣợc rằng sau khi vua Minh Mạng điều chỉnh lại chính sách đã thể hiện đƣợc sự quan tâm đúng 1 TS. Huỳnh Ngọc Đáng (2012), Vương triều Nguyễn, thế kỷ XIX, Giáo trình Lịch sử Việt Nam chuyên đề. [trang 48] 9 đắn, tiến bộ hơn về mặt ruộng đất cho ngƣời dân, nhƣng bên cạnh đó ngƣời dân vẫn còn tình trạng bị bóc lột nặng nề, xã hội Việt Nam ngày càng đi vào tình trạng bất ổn. Mặt khác triều Nguyễn đã không ngừng quan tâm đến công tác trị thủy, sửa sang đê điều cho dân.
Sau khi lên ngôi vua Gia Long đã lo tu bổ sửa chữa đê cũ, đắp thêm nhiều đê mới; tiến hành đào kinh Vĩnh Tế và kinh Thoại Hà phục vụ cho việc trồng trọt. Việc đắp đê đƣợc triều đình quan tâm đặc biệt, các công việc đƣợc tiến hành khá tỉ mỉ. Tuy nhiên, nạn vỡ đê vẫn xảy ra thƣờng xuyên kéo theo nhiều thiệt hại nặng nề về kinh tế - xã hội. Nhờ vào những chính sách mang tính trọng nông của triều Nguyễn đã làm cho tình hình nông nghiệp ở nƣớc ta vào thế kỷ XIX đã có những bƣớc phát triển nhất định về khai hoang và sản xuất lƣơng thực ở các vùng đồng bằng.
Tuy nhiên, do chính sách quá chú trọng đất công của triều đình đã làm cho số diện tích ruộng đất tƣ bị hạn chế không thể động viên đƣợc nền sản xuất nông nghiệp phát triển, bên cạnh đó, chính sách đê điều bị thất bại đã làm cho nền nông nghiệp Việt Nam chƣa có tiềm lực phát triển, đời sống ngƣời dân vẫn còn khó khăn chƣa đƣợc ổn định nhƣ những mong muốn khi mới thành lập của triều Nguyễn. Với công nghiệp: Nhà Nguyễn đã làm ra nhiều xƣởng đúc tiền, đúc súng, đóng tàu, tập trung ở kinh thành Huế, Hà Nội, Gia Định và các tỉnh khác. Năm 1803, vua Gia Long đã lập xƣởng đúc tiền ở Hà Nội. Năm 1812 nhà Nguyễn đã đúc thêm tiền kẽm và đến năm 1816 tiền kẽm đã đƣợc lƣu thông trong cả nƣớc, bên cạnh đó triều Nguyễn còn quan tâm nhiều đến việc khai mỏ, nhất là các mỏ kim loại quý.
Năm 1830 - 1840, vua Minh Mệnh đã chế tạo chiếc tàu chạy bằng hơi nƣớc đầu tiên, từ những việc làm này của triều Nguyễn cho thấy đƣợc trình 10 độ và khả năng phát triển công nghệ ở nƣớc ta vào thế kỷ XIX đã nâng cao đƣợc hiểu biết của ngƣời dân. Với thủ công nghiệp: Trong thế kỷ XIX, các làng nghề thủ công ở nông thôn và thành thị đã không ngừng phát triển, nhiều thợ thủ công chuyên nghiệp đã tăng lên một cách đáng kể, triều Nguyễn tổ chức thu thuế và thu mua sản phẩm thƣờng với giá rất thấp. Tuy nhiên, nhìn chung các hoạt động thủ công nghiệp trong dân gian còn rất phân tán, rời rạc, lẻ tẻ. Những chính sách đối với công nghiệp (có cả khai mỏ) và thủ công nghiệp tuy đã có những cố gắng nhất định nhƣng vẫn còn nhiều hạn chế đã không làm cho kỹ thuật phát triển và sản xuất không đạt đƣợc nhiều thành tựu; do những chính sách sai lầm của triều Nguyễn đã làm cho nền thƣơng nghiệp lâm vào tình trạng lạc hậu và trì trệ.
Đối với các hoạt động nội thƣơng: Bƣớc sang thế kỷ XIX, trong điều kiện quốc gia thống nhất không còn tình trạng chia cắt dẫn đến xu thế phát triển kinh tế thị trƣờng ngày càng đƣợc thể hiện rõ hơn, đƣợc biểu hiện cụ thể dƣới triều vua Gia Long nhiều kênh ngòi đƣợc khai đào và những tuyến giao thông quan trọng đã đƣợc sửa chữa và xây dựng mới, thúc đẩy giao lƣu kinh tế giữa các vùng phát triển. Mặt khác nhà nƣớc vẫn còn tình trạng nắm độc quyền mua bán nhiều sản phẩm công nghiệp quan trọng trong nƣớc đã làm cho nền kinh tế hàng hóa không có điều kiện phát triển. Nhà Nguyễn còn thực hiện thống nhất đơn vị đo lƣờng và hệ thống tiền tệ ở trong khu vực. Nhìn chung thƣơng nghiệp có bƣớc phát triển mạnh mẽ, thị trƣờng mở rộng và thống nhất đến nhiều vùng, Việt Nam có đủ điều kiện để tiếp tục phát triển các mối quan hệ ngoại thƣơng với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới.
11 Đối với ngoại thƣơng: Vào thế kỷ XIX, các vua triều Nguyễn vấp phải một mâu thuẫn lớn giữa lập trƣờng cƣơng quyết không bang giao chính thức với các nƣớc phƣơng Tây với mong muốn giao thƣơng, buôn bán với các thuyền buôn đến từ các nƣớc này để tranh thủ lợi ích các mặt, chính mâu thuẫn này này đã dần dần hình thành chính sách bế quan tỏa cảng của triều Nguyễn. Vào thế kỷ XIX, thuyền buôn các nƣớc láng giềng nhƣ Xiêm, Malaysia thƣờng xuyên sang mua bán hàng hóa ở nƣớc ta. Đồng thời nhà Nguyễn còn rất xem trọng mối quan hệ bang giao với nhà nƣớc Mãn Thanh và các thuyền buôn Trung Hoa. Những hoạt động về nội thƣơng và ngoại thƣơng của triều Nguyễn đã không tạo đƣợc những bƣớc phát triển đáng kể trong và ngoài khu vực, bên cạnh đó những chính sách bất cập của nhà Nguyễn đã làm cho ngoại thƣơng bị ức chế, đình đốn, không có điều kiện mở rộng giao thƣơng với bên ngoài.
Về mặt xã hội: Dù chú ý trọng nông nhƣng nông nghiệp triều Nguyễn luôn điêu đứng. Vào thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đã ban hành nhiều chính sách nhằm ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nhƣng do thiên tai mất mùa xảy ra thƣờng xuyên đã dẫn đến nhiều trận nạn đói lớn trong nhân dân; các vua triều Nguyễn đã có những biện pháp cứu giúp dân thoát khỏi tình trạng khó khăn nhƣ mở kho thóc chẩn cấp cho dân đói hoặc cho dân vay lúa, khuyến khích các nhà giàu quyên góp tiền, gạo để cứu tế cho dân, mặt khác triều đình cũng chú ý miễn giảm thuế cho nông dân, miễn giảm thuế nhƣng các biện pháp này đều bị hạn chế do quan lại tham ô. Chính những việc làm sai trái của vua quan triều đình đã làm cho đời sống của ngƣời dân ngày càng cơ cực họ đã phải nổi dậy đấu tranh nhƣ cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Nam Định (1826-1827), cuộc nổi dậy của Lê Duy Lƣơng (1832-1838), cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, Cao Bá Quát… 12 Nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam thế kỷ XIX đã vấp phải những khó khăn làm cho kinh tế trong và nƣớc không phát triển nhƣ mong muốn từ đầu của triều Nguyễn; quan lại vơ vét, tham nhũng, bóc lột làm cho đời sống nông dân cơ cực họ phải nổi dậy đấu tranh chống lại triều đình để tìm ra đƣợc một cuộc sống tốt hơn đƣa đất nƣớc phát triển hơn và thoát khỏi cảnh bần cùng thối nát của chế độ phong kiến. Tình hình chính trị Nhà Nguyễn xây dựng nhà nƣớc theo thiết chế quân chủ chuyên chế tập trung mọi quyền hành vào tay nhà vua, giúp việc cho vua có 6 bộ (bộ lại, bộ hộ, bộ lễ, bộ binh, bộ hình, bộ công).