mở đầu cho thời kỳ sôi động trong quan hệ Trung - Nhật thời Đường với những đoàn sứ giả Nhật Bản đến Trung Quốc. Từ năm 630 đến năm 894, số lần Nhật Bản cử sứ giả đến Trung Quốc là 19 lần [68, tr. Sự giao lưu giữa Trung Quốc và Nhật Bản thời Đường chủ yếu thông qua việc Nhật Bản cử sứ giả đến nhà Đường. Trong sử liệu của Nhật Bản, “khiển Đường sứ” (“遣唐使”) thời kỳ đầu gọi là “khiển Đại Đường đại sứ”, “tây hải sứ”, “nhập Đường sứ”, sau đó mới chính thức gọi là “khiển Đường sứ”.
Cũng giống như sứ giả của các nước khác, triều Đường gọi là “sứ triều cống”. Thành viên của đoàn sứ giả đến Đường bao gồm: (1) Quan viên: 1 đại sứ, 1 đến 2 phó sứ, 1 đến 4 phán quan, 1 đến 4 lục sự. Có thời kỳ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoài đại sứ còn có 1 giáp sứ hoặc chấp tiết sứ. Họ phụ trách ngoại giao, thương mại với triều Đường và những sinh hoạt thường ngày của đoàn đại biểu.
Giáp sứ, chấp tiết sứ, đại sứ và phó sứ là nhân vật quan trọng có hể hoàn thành nhiệm vụ hay không, phong độ tao nhã và tu dưỡng tương đối sâu về phương diện tri thức và lễ nghi của Trung Quốc rất quan trọng. (2) Nhân viên đi cùng. Có lưu học sinh, lưu học tăng, phiên dịch, chủ thần, thầy thuốc, thầy âm dương, họa sĩ, xạ thủ, nhạc sĩ, thợ ngọc, thợ gốm, thợ đóng thuyền, tạp sự, thủy thủ… Sứ đoàn Nhật Bản đến triều Đường đã tập trung những nhân tài ưu tú của Nhật Bản đương thời về các lĩnh vực ngoại giao, học thuật, khoa học kỹ thuật, công nghệ, âm nhạc, mỹ thuật, hàng hải… để đảm bảo hoàn thành sứ mệnh ngoại giao, tiếp thu văn hóa tiên tiến của nhà Đường, nâng cao tỉ lệ thành công của chuyến đi với mức độ cao nhất. Thành viên của đoàn khiển Đường sứ (không bao gồm thủy thủ) đều phải trải qua sự tuyển lựa nghiêm ngặt, là những nhân tài có tài năng xuất chúng, trong thời gian họ lưu lại Trung Quốc họ sẽ học được kỹ thuật văn hóa tiên tiến đem về Nhật Bản.
Vì vậy, đối với các phương diện chế độ, pháp luật, tôn giáo, giáo dục, văn học, âm nhạc, thư pháp, mỹ thuật công nghệ, sử học, y dược, lịch pháp, kiến trúc, phong tục ăn mặc… của Nhật Bản họ đều có ảnh hưởng sâu rộng. “Khiển Đường sứ” ngoài đem về văn hóa kỹ thuật tiên tiến còn đem về nhiều bảo vật quý, có một số vẫn còn được lưu giữ ở Nara. Hoạt động thương mại của họ về mặt khách quan đã thúc đẩy giao lưu vật chất giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Quan hệ Trung - Nhật thời Tống Nguyên (thế kỷ X - XIV) Mặc dù chế độ “khiển Đường sứ” chấm dứt nhưng sự giao lưu giữa nhân dân hai nước không hề bị gián đoạn, ngược lại sự qua lại giữa các tăng lữ, thương nhân hai nước càng mật thiết.
Trong khoảng thời gian 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngắn khoảng 70 năm sau khi “khiển Đường sứ” chấm dứt (894) đến khi nhà Đường diệt vong (907), sử sách đã ghi nhận hơn 37 lần sự qua lại giữa nhân dân hai nước [64, tr. Sau khi triều Đường diệt vong (907), Trung Quốc trải qua thời kỳ Ngũ Đại thập quốc đầy hỗn loạn (907). Thời kỳ này nước Ngô Việt ở phía Nam sông Trường Giang với điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho phát triển thương mại biển đã đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ với Nhật Bản. Theo khảo sát, trong nửa thế kỷ từ khi nhà Đường diệt vong đến khi nhà Tống thành lập, thương thuyền của Ngô Việt đã đến Nhật Bản hơn 15 lần [64, tr.
Nhà cầm quyền Ngô Việt muốn thông qua những thương nhân thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Nhật Bản, các vua của Ngô Việt đều có thư từ qua lại với Thiên hoàng và đại thần Nhật Bản. Năm 960, Triệu Khuông Dẫn thành lập triều Tống, cơ bản thống nhất đất nước đã tạo ra điều kiện thuận lợi để hai nước Trung - Nhật thiết lập quan hệ ngoại giao, nhưng Nhật Bản lại áp dụng thái độ tiêu cực về mặt quan hệ quốc tế, dùng pháp luật hạn chế nghiệm ngặt sự giao lưu với nước ngoài. Do đó, từ cuối thời Heian (nửa sau thế kỷ X) đến thời Mạc phủ Kamakura (1192 - 1333), Nhật Bản không có quan hệ chính thức với triều Tống ở Trung Quốc (960 - 1279). Thời gian này triều đình Nhật Bản không cử các đoàn sứ giả đến Trung Quốc, nhưng quan hệ giữa hai nước vẫn không hề bị gián đoạn.
Nhà Tống và Nhật Bản tuy không thiết lập quan hệ ngoại giao nhưng giữa hai triều đình vẫn có lễ vật trao đổi qua lại thông qua các nhà sư. Ngoài ra, những hoạt động thương mại của thương nhân hai nước cũng đã góp phần quan trọng trong việc duy trì tính liên tục trong giao lưu văn hóa Trung - Nhật thời kỳ này. Trong “Tống sử, Nhật Bản truyện” có ghi lại sự kiện các thuyền buôn của Nhật Bản đến Trung Quốc vào các năm 1176, 1183, 1200, 1202 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Từ đó có thể hình dung ra được tình hình phát triển của hoạt động thương mại giữa nhà Tống và Mạc phủ Ashikaga.
Thời kỳ này, những chủng loại hàng hóa của nhà Tống đưa đến Nhật Bản rất nhiều, bao gồm tiền đồng, hương liệu, dược liệu, đường cát, trà… Trong đó, mặt hàng tiền đồng là đáng chú ý hơn cả. Đến thời Bắc Tống, tiền đồng của Trung Quốc đã bắt được xuất khẩu ra nước ngoài với số lượng lớn, triều đình tuy đã ra lệnh hạn chế nhưng đến thời Nam Tống (1127-1279) đã xuất hiện hiện tượng “tiền hoang”. Tiền của nhà Tống lưu thông rất rộng rãi. Nhật Bản cũng có rất nhiều hàng hóa thông qua hoạt động thương mại này được đưa vào Trung Quốc, trong đó sản phẩm công nghệ là nhiều nhất, các sản phẩm tinh xảo của Nhật Bản như thủy tinh, quạt, kiếm… đều rất được người Tống ưa chuộng.
Nhà thơ nổi tiếng nhà Tống là Âu Dương Tu có một bài thơ “Bài ca về kiếm Nhật Bản” đã khen ngợi về sự tinh xảo của kiếm Nhật Bản [30, tr. Giữa các nhà sư nhà Tống và Nhật Bản cũng thường tặng cho nhau những sản phẩm công nghệ. Ngoài ra, các mặt hàng như gỗ quý, vàng dùng để xây dựng tự viện cũng là sản phẩm Nhật Bản nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc. Thời Ashikaga, sự giao lưu giữa các tăng lữ rất nhộn nhịp, đã xuất hiện rất nhiều nhà sư Nhật Bản nổi tiếng đến Trung Quốc thời Tống.
Họ đi thuyền đến Trung Quốc học tập Phật giáo và văn hóa của Nam Tống rồi mang về Nhật Bản. Các nhà sư Nhật Bản đến Trung Quốc thời Tống thời kỳ đầu thời Ashikaga kế thừa truyền thống của các nhà sư đến Trung Quốc thời Bắc Tống, tức di tham quan các thánh địa, tìm hiểu Phật giáo. Nhiều nhà sư nổi tiếng của Nhật Bản đều từng đến Trung Quốc thời Tống như Tuấn Nãi (俊艿) đã ở lại Trung Quốc 13 năm, sau khi về nước đã phát triển Luật Tông và trở thành nhân vật tiêu biểu đến Trung Quốc học tập Luật Tông thời Tống. Sau đó, có rất nhiều đệ tử của ông đến Trung Quốc học tập về 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phật giáo thời Tống.
Về Thiền Tông có Vinh Tây (荣西) cũng từng đến Trung Quốc học tập về Phật giáo, sau khi về Nhật Bản đã xây dựng các chùa Thọ Phúc, Kiến Nhân và đóng vai trò là người giúp cho sự hưng thịnh của Thiền Tông Nhật Bản. Kế thừa ông còn có rất nhiều nhà sư đến Trung Quốc học hỏi Phật pháp khiến cho phong trào đến Trung Quốc học tập Phật giáo của các nhà sư Nhật Bản đạt đến cao trào. Các nhà sư Nhật Bản đến Trung Quốc thời Tống ngoài học tập Phật giáo còn thu thập rất nhiều kinh Phật và điển tịch mang về Nhật Bản, trong đó quan trọng nhất là “Đại tạng kinh”. “Đại tạng Kinh” truyền vào Nhật Bản đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển đến ngành in ấn của Nhật Bản.
Ngoài ra, các nhà sư Nhật Bản còn đưa về nước hàng ngàn cuốn kinh điển của các tông phái khác như Luật Tông, Thiên Đài tông, Hoa Nghiêm tông [64, tr. Thời Nam Tống, Nho giáo phát triển, các kinh điển của Nho giáo cũng được các nhà sư Nhật Bản đưa về nước. Tuấn Nãi đã từng mang về hơn 200 cuốn sách về kinh điển của Nho giáo. Những kinh điển này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của văn học Ngũ Sơn thời kỳ sau.
Ngoài kinh điển và thư tịch, các nhà sư Nhật Bản đến Trung Quốc thời Tống còn mang về nước nhiều dụng cụ dùng trong nghi lễ của Phật giáo, sản phẩm công nghệ và các đặc sản. Theo ghi chép lại, Tuấn Nãi từng ba lần đến Trung Quốc đã đem về nhiều hạt xá lợi và những bức tranh thủy mặc về tượng La Hán mà về sau rất có ảnh hưởng đối với phong cách đắp tượng La Hán của Nhật Bản. Ngoài ra, trong các hàng hóa mà các nhà sư mang về nước còn có rất nhiều các loại trà, Vinh Tây đã đem phương pháp trồng trà và uống trà từ Trung Quốc về Nhật Bản và viết cuốn sách “Ghi chép về uống trà dưỡng sinh” khiến cho phong tục uống trà được lưu hành rộng rãi. Bên cạnh số lượng lớn các nhà sư Nhật Bản đến Trung Quốc thời Tống còn có không ít các nhà sư Trung Quốc đến Nhật Bản.
Theo nghiên 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu của Mộc Cung Thái Ngạn, thời kỳ Ashikaga có tổng cộng 14 nhà sư Tống đến Nhật Bản [68, tr. Trong đó sớm nhất là Lan Khê Đạo Long và đệ tử là Nghĩa Công Chiêu Nhân đến Nhật Bản năm 1246 đã được các tướng quân Nhật Bản coi trọng và năm 1253 được mời làm trụ trì chùa Kiến Trường. Sau Đạo Long có một số nhà sư nổi tiếng khác đến Nhật Bản là Phổ Ninh từng ở lại Nhật Bản 5 năm và cũng nhận được sự tín nhiệm của các tướng quân Nhật Bản, ông cũng là người có ảnh hưởng lớn đến sự kết hợp giữa Thiền Tông và võ sĩ Nhật Bản. Ngoài ra còn phải kể đến nhiều nhà sư khác như Tĩnh Chiếu, Chính Niệm, Tổ Nguyên… cũng từng đến Nhật Bản.
Sau khi họ đến Nhật Bản đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của Thiền Tông Nhật Bản trong giới võ sĩ. Thế kỷ XIII, trong kế hoạch bành trướng của mình, triều Nguyên (1279-1368) đã có tham vọng xâm lược Nhật Bản.