Tổng quan luận án
Công trình Quan hệ Attapeu (Lào) - Kon Tum (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2017 do nghiên cứu sinh Lê Thanh Hải thực hiện, thuộc chuyên ngành Lịch sử thế giới (mã số 9229011), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Tuấn tại Trường Đại học Vinh (bảo vệ năm 2022). Luận án được triển khai nhằm khôi phục bức tranh lịch sử toàn diện về tiến trình hợp tác giữa hai địa phương giáp biên trong giai đoạn đổi mới và hội nhập.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tỉnh Attapeu (CHDCND Lào) và tỉnh Kon Tum (CHXHCN Việt Nam) là hai địa phương láng giềng có chung đường biên giới dài 75,169 km, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn và giữ vị trí trung tâm trong Khu vực Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV). Trục giao thông kết nối Đường 18B (Lào) với Quốc lộ 40 và Quốc lộ 19 (Việt Nam) qua cặp Cửa khẩu Quốc tế Phoukeua - Bờ Y đóng vai trò là cửa ngõ ra biển ngắn nhất của vùng Nam Lào, đồng thời là huyết mạch giao thương của vùng Bắc Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ.
Sau khi tỉnh Kon Tum được tái lập vào năm 1991, mối quan hệ giữa hai tỉnh bước sang giai đoạn phát triển toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa và xã hội. Mặc dù vậy, hiệu quả hợp tác thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng địa kinh tế và địa chính trị của hai bên. Về mặt học thuật, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận quan hệ hai nước ở cấp độ vĩ mô hoặc khảo sát các cặp tỉnh biên giới phía Bắc và Bắc Trung Bộ; những nghiên cứu trực tiếp về cặp địa phương Attapeu - Kon Tum còn rời rạc, giới hạn về thời gian khảo sát hoặc chỉ phản ánh góc nhìn đơn phương. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc phục dựng một cách khách quan, hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sử quan hệ giữa hai tỉnh trong 27 năm (1991 - 2017).
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Khôi phục lại một cách hệ thống, toàn diện tiến trình quan hệ hợp tác giữa tỉnh Attapeu và tỉnh Kon Tum trên các lĩnh vực từ năm 1991 đến năm 2017; từ đó rút ra các thành tựu, hạn chế, những điểm nổi bật và đánh giá tác động của mối quan hệ này đối với từng địa phương cũng như đối với quan hệ hai nước Việt Nam - Lào.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích những cơ sở hình thành và nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác giữa tỉnh Attapeu và tỉnh Kon Tum giai đoạn 1991 - 2017.
- Hệ thống hóa tiến trình triển khai và phát triển quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh trên các lĩnh vực cụ thể: chính trị - đối ngoại; an ninh - quốc phòng và công tác biên giới; kinh tế (thương mại, đầu tư, nông - lâm nghiệp, giao thông vận tải, du lịch); văn hóa - xã hội; giáo dục - đào tạo; y tế, viện trợ nhân đạo và quy tập hài cốt liệt sĩ.
- Đưa ra những nhận xét khoa học về thành tựu, hạn chế và lý giải nguyên nhân; khái quát các đặc điểm nổi bật trong quan hệ song phương.
- Làm rõ tác động của quan hệ Attapeu - Kon Tum đối với sự phát triển của mỗi tỉnh và đối với quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ giữa tỉnh Attapeu (Lào) và tỉnh Kon Tum (Việt Nam) trên tất cả các lĩnh vực hợp tác từ năm 1991 đến năm 2017.
- Phạm vi thời gian: Mốc mở đầu là năm 1991 (thời điểm tái lập tỉnh Kon Tum sau khi tách ra từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum vào ngày 12/8/1991). Mốc kết thúc là năm 2017 (năm kỷ niệm 40 năm ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào ngày 18/7/1977 và 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 5/9/1962). Các sự kiện lịch sử trước năm 1991 và sau năm 2017 được đề cập ở mức độ bổ trợ để soi chiếu tiến trình vận động.
- Phạm vi không gian: Không gian nghiên cứu trọng tâm là địa bàn tỉnh Attapeu và tỉnh Kon Tum; đồng thời mở rộng liên hệ đến các tỉnh trong Khu vực Tam giác phát triển CLV và các vùng phụ cận của Lào, Việt Nam, Campuchia.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các lĩnh vực chính trị - đối ngoại; an ninh - quốc phòng và quản lý biên giới; kinh tế; giáo dục - đào tạo; văn hóa; y tế, viện trợ nhân đạo và công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã phân loại và tổng thuật hệ thống công trình nghiên cứu liên quan theo ba nhóm chủ thể xuất bản:
Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam
- Nhóm nghiên cứu về quan hệ tổng thể Việt Nam - Lào: Bộ tổng tập Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007) do Ban Chỉ đạo liên quốc gia biên soạn (NXB Chính trị quốc gia, 2012); công trình Lịch sử Lào hiện đại (2 tập) của Nguyễn Hùng Phi và Buasi Chalơnsúc (2006); bộ sách 11 cuốn của NXB Thông tin và Truyền thông (2017) với các tác giả Nguyễn Phương Liên, Lê Đình Chỉnh, Võ Đình Hường, Hà Nguyễn; cùng hệ thống kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế tại Nghệ An (2002), Vientiane (2007), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2017), Đại học Tây Bắc (2017) với các bài viết của Trần Công Hàm, Nguyễn Hoàng Giáp, Vũ Công Quý, Trương Duy Hòa, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Kim Lân, Vũ Tuyết Lan. Về cấp độ luận án tiến sĩ có các công trình của Nguyễn Thị Phương Nam (2007) và Nguyễn Viết Xuân (2021).
- Nhóm nghiên cứu về các cặp quan hệ địa phương giáp biên: Luận án của Bùi Văn Hào (2011) về quan hệ giữa 4 tỉnh Trung - Nam Lào với Nghệ An, Hà Tĩnh (1976 - 2007); Nguyễn Trọng Tứ (2013) về Hà Tĩnh với Bôlykhămxay, Khăm Muộn (1991 - 2010); Đặng Thị Hồng Liên (2018) về Hủa Phăn - Sơn La (1975 - 2012); Lưu Thị Kim (2021) về Hủa Phăn - Thanh Hóa (1986 - 2017); Lại Thị Hương (2021) về Khăm Muộn - Quảng Bình (1989 - 2017).
- Nhóm tài liệu trực tiếp về Kon Tum và quan hệ Attapeu - Kon Tum: Bộ sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum (Tập I, II, III xuất bản các năm 2006, 2002, 2020); Lịch sử Bộ đội Biên phòng tỉnh Kon Tum 1963 - 2008 (2010); Lịch sử Đảng bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh Kon Tum 1963 - 2018 (2018); Kon Tum - 100 năm Lịch sử và phát triển (2013); Kon Tum một chặng đường xây dựng và phát triển 1991 - 2012 (2013); đề tài khoa học mã số KHCN-TN3/11-15 do Đặng Xuân Phong làm chủ nhiệm (2015); luận văn thạc sĩ của Võ Tấn Lạc (2015); các bài báo chuyên đề của Nguyễn Văn Phượng - Nguyễn Đức Toàn (2017), Trương Thị Minh Nguyệt - Nguyễn Hữu Hà (2017) và Nguyễn Hữu Hà (2017).
Các công trình nghiên cứu tại Lào
Tác phẩm Xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập và CNXH của Chủ tịch Kaysone Phomvihane (1978); các luận án tiến sĩ bảo vệ tại Học viện Ngoại giao của Nhotkhammani Souphanouvong (2016) về các nhân tố chi phối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Bounsavang Xayasane (2018) về chính sách đối ngoại của Lào với Việt Nam từ năm 1986, và Soulatphone Bounmapheth (2020) về hợp tác giáo dục Lào - Việt Nam giai đoạn 1986 - 2016.
Các công trình nghiên cứu quốc tế
Các nghiên cứu của Martin Stuart-Fox gồm A History of Laos (1998), bài báo Laos: the Vietnamese Connection (1980) và Laos: the Chinese Connection (2009); Grant Evans với Laos: Culture and Society (1999); Ronald Bruce St John với Revolution, reform and regionalism in Southeast Asia (2006); bài viết của Gabor Vargyas về tộc người Bru trong công trình Laos and Ethnic Minority Cultures: Promoting Heritage của UNESCO (2003); báo cáo Data Collection Survey on Economic Development of the Southern Region in Lao PDR của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản - JICA (2012).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước đã cung cấp cơ sở lý luận và dữ liệu nền tảng, tuy nhiên công trình của Võ Tấn Lạc (2015) chỉ khảo sát từ giác độ tỉnh Kon Tum trong giới hạn thời gian đến năm 2014 và khuyết thiếu các nội dung về chính trị - đối ngoại, hợp tác đầu tư và công tác xã hội nhân đạo; các bài viết hội thảo chỉ dừng lại ở mức tóm lược một số khía cạnh đơn lẻ. Luận án của Lê Thanh Hải là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận toàn diện, hai chiều, khảo sát đầy đủ tất cả các lĩnh vực hợp tác giữa Attapeu và Kon Tum xuyên suốt giai đoạn 1991 - 2017 dựa trên hệ thống văn kiện lưu trữ gốc của cả hai địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Luận án quán triệt nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc xem xét các sự kiện lịch sử trong trạng thái vận động, liên hệ khách quan và kế thừa. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, cùng các chủ trương hợp tác phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền biên giới của Đảng bộ, chính quyền hai tỉnh Kon Tum và Attapeu.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm công cụ chủ đạo, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Phục dựng tiến trình quan hệ hợp tác Attapeu - Kon Tum theo trình tự thời gian từ năm 1991 đến năm 2017, làm rõ bối cảnh cụ thể của từng giai đoạn và tính liên tục trong quan hệ song phương.
- Phương pháp logic: Phân tích bản chất, quy luật vận động của mối quan hệ, khái quát các thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, rút ra các đặc điểm nổi bật và đánh giá tác động tổng thể.
- Các phương pháp bổ trợ: Thống kê, phân loại, tổng hợp tài liệu văn bản; phương pháp so sánh lịch sử (đối sánh với các cặp quan hệ địa phương khác); phương pháp điền dã khảo sát thực địa tại tỉnh Attapeu và khu vực Cửa khẩu Quốc tế Phoukeua - Bờ Y (thực hiện vào tháng 7/2019); phương pháp phỏng vấn chuyên gia đối với các nguyên lãnh đạo tỉnh Kon Tum.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Tài liệu gốc lưu trữ: Biên bản ghi nhớ, biên bản hội đàm, báo cáo tổng kết hợp tác định kỳ giữa tỉnh Kon Tum và tỉnh Attapeu (1991 - 2017) lưu trữ tại Chi cục Văn thư - Lưu trữ tỉnh Kon Tum, Sở Ngoại vụ tỉnh Kon Tum, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Kon Tum; cùng các văn bản đối ngoại tại Sở Ngoại vụ tỉnh Attapeu.
- Văn kiện chính thức: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum và Đảng bộ tỉnh Attapeu từ năm 1991 đến năm 2017.
- Nguồn dữ liệu bổ trợ: Niên giám thống kê của tỉnh Kon Tum và tỉnh Attapeu, các công trình sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, tạp chí khoa học, bản đồ địa lý hành chính, tư liệu ảnh thực địa và tư liệu phỏng vấn nhân chứng lịch sử.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này phân tích, đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quan hệ Việt Nam - Lào và quan hệ giữa các địa phương giáp biên. Tác giả chỉ rõ những kết quả đã đạt được của giới nghiên cứu đi trước, xác lập vị trí khoa học của đề tài và chỉ ra những vấn đề trọng tâm cần giải quyết về cơ sở hình thành, tiến trình hợp tác trên các lĩnh vực và tác động thực tiễn của quan hệ Attapeu - Kon Tum giai đoạn 1991 - 2017.
Chương 2: Cơ sở và nhân tố tác động đến quan hệ Attapeu - Kon Tum (1991 - 2017)
Chương 2 làm rõ các tiền đề tự nhiên, xã hội và lịch sử, cùng các nhân tố trong nước và quốc tế chi phối quan hệ song phương:
| Tiêu chí |
Tỉnh Attapeu (Lào) |
Tỉnh Kon Tum (Việt Nam) |
| Vị trí - Diện tích |
Phía Đông Nam Lào; 10.032 km²; 5 huyện (Samakkhixay, Xaysettha, Sanamxay, Sanxay, Phouvong) |
Phía Bắc Tây Nguyên; 9.690,5 km²; 1 TP và 9 huyện (giáp Attapeu tại Ngọc Hồi, Đăk Glei) |
| Đặc điểm địa hình |
Phía Tây dãy Trường Sơn Nam; 60% đồi núi, thoải dần từ Đông sang Tây |
Đỉnh dải Trường Sơn Nam; 2/5 diện tích là đồi núi, thoải dần từ Bắc xuống Nam |
| Hệ thống sông ngòi |
Sông Sekong, Xe Namnoy, Xe Pian, Xekaman; mật độ 1,16 km/km² |
Sông Sê San, Đăk Pô Kô, Đăk Bla, đầu nguồn Xekaman, Sekong; mật độ 0,9 km/km² |
| Tài nguyên - Đất đai |
Đất phù sa, đất xám, đất đỏ vàng; rừng che phủ 70% (~700.000 ha); bauxit Sanxay (735 triệu tấn), vàng, đồng |
Đất xám chiếm 93,44%; rừng tự nhiên 590.320 ha; sâm Ngọc Linh, dược liệu; vàng, bauxit, vật liệu xây dựng |
| Dân số (năm 2017) |
~150.000 người; mật độ 11 - 12 người/km²; 11 dân tộc chính |
520.048 người; mật độ 46 người/km² (2010); 42 dân tộc (46,8% Kinh, 53,2% DTTS) |
| Mối liên hệ tộc người |
Nhóm Talieng, Anak, Brao (ngữ hệ Môn - Khmer) |
Nhóm Giẻ Triêng, Gia Rai, Brâu (Đăk Mế, Bờ Y) có cùng cội nguồn dòng tộc |
| Văn hóa truyền thống |
Canh tác lúa nương/ruộng, nghề dệt thổ cẩm, lễ hội mừng lúa mới, tết Bunpimay tháng 4 |
Lễ hội mừng lúa mới (Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai), tết tháng 4 (Gia Rai), tục cà răng căng tai (Brâu) |
Về mặt lịch sử, nhân dân hai tỉnh có truyền thống liên minh chống thực dân Pháp (1913 - 1929), từng cùng thuộc địa hạt quản lý của Tòa Giám mục Kon Tum từ năm 1932. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Kon Tum là hậu phương trực tiếp giúp thành lập Khu Kháng chiến Hạ Lào (tháng 2/1949). Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), Kon Tum bàn giao 11 thôn dọc sông Xekaman năm 1955 và làng Mang Tachri năm 1958 cho huyện Sanxay (Attapeu); khu căn cứ Đăk Dục Nhầy là nơi thành lập các đơn vị vũ trang bí mật B1, B2 (1959 - 1960); các đại biểu Attapeu tham dự Đại hội đoàn kết các dân tộc Kon Tum tại H29 Đăk Rơ Manh năm 1961. Giai đoạn 1975 - 1991, tỉnh Gia Lai - Kon Tum thành lập Ban hợp tác kinh tế - văn hóa với Attapeu (10/1977) và cử đoàn đại biểu do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tạ Quang Kim dẫn đầu sang hội đàm, hỗ trợ Attapeu xây dựng Đường 18, trụ sở và bệnh viện (10/1978).
Về nhân tố tác động (1991 - 2017), quan hệ hai tỉnh chịu sự tác động sâu sắc từ xu thế hòa bình, hợp tác khu vực sau Chiến tranh Lạnh; đường lối đổi mới của hai Đảng; cơ chế phối hợp trong Khu vực Tam giác phát triển CLV (thành lập theo Tuyên bố Viêng Chăn ngày 24/11/2004); và nhu cầu nội tại trong việc phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh biên giới của mỗi bên.
Chương 3: Quan hệ giữa tỉnh Attapeu và tỉnh Kon Tum trên các lĩnh vực (1991 - 2017)
Luận án trình bày chi tiết tiến trình hợp tác theo từng nhóm lĩnh vực:
- Chính trị - đối ngoại: Duy trì các chuyến thăm, làm việc định kỳ giữa lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban Chính quyền tỉnh Attapeu và Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Kon Tum; ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác cấp cao giai đoạn 2011 - 2017; tăng cường trao đổi đoàn của các sở, ban, ngành, đoàn thể và thanh niên hai tỉnh.
- An ninh - quốc phòng và công tác biên giới: Lực lượng Bộ đội Biên phòng, Công an tỉnh Kon Tum phối hợp chặt chẽ với lực lượng An ninh, Quân sự tỉnh Attapeu tổ chức tuần tra song phương bảo vệ 75,169 km đường biên; phối hợp hoàn thành kế hoạch tăng dày và tôn tạo mốc quốc giới; xử lý tình trạng di cư tự do, kết hôn không giá thú vùng biên giới (2015 - 2017); đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy và buôn lậu qua Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y - Phoukeua. Đội K53 tỉnh Kon Tum liên tục thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và hồi hương hài cốt quân tình nguyện, chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào giai đoạn 1995 - 2017.
- Kinh tế:
- Giao thông: Xây dựng, nâng cấp hệ thống Đường 18B kết nối với Quốc lộ 40 và Quốc lộ 19; mở các tuyến vận tải hành khách, hàng hóa liên vận quốc tế của Hợp tác xã vận tải Tây Nguyên.
- Thương mại: Hoạt động xuất nhập khẩu qua Cửa khẩu Bờ Y giai đoạn 1992 - 1995 và bước phát triển kim ngạch thương mại hai chiều giai đoạn 2010 - 2017; trao đổi các mặt hàng nông sản, lâm sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng (2011 - 2013).
- Đầu tư và nông - lâm nghiệp: Các doanh nghiệp Kon Tum đầu tư sang Attapeu trong lĩnh vực trồng và khai thác cao su, cây công nghiệp, khai khoáng và chế biến gỗ.
- Văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế và nhân đạo: Tỉnh Kon Tum cấp học bổng, tiếp nhận và đào tạo lưu học sinh tỉnh Attapeu tại Trường Cao đẳng Sư phạm Kon Tum và các cơ sở dạy nghề; phối hợp tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao; hỗ trợ khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh qua biên giới; thực hiện các gói viện trợ tài chính và cơ sở vật chất từ nguồn ngân sách tỉnh Kon Tum cho tỉnh Attapeu trong giai đoạn 2010 - 2017.
Chương 4: Nhận xét về quan hệ Attapeu - Kon Tum (1991 - 2017)
- Thành tựu: Giữ vững ổn định chính trị, củng cố vững chắc an ninh - quốc phòng và trật tự an toàn xã hội vùng biên; từng bước hình thành hành lang kinh tế thương mại - vận tải liên kết hai tỉnh; hoàn thành công tác phân giới cắm mốc; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tỉnh Attapeu.
- Hạn chế và nguyên nhân: Kim ngạch thương mại và quy mô các dự án đầu tư còn khiêm tốn; kết cấu hạ tầng khu vực biên giới chưa đồng bộ; giao lưu nhân dân ở một số xã vùng sâu còn hạn chế. Nguyên nhân do điều kiện địa hình chia cắt, xuất phát điểm kinh tế thấp, nguồn lực ngân sách của cả hai địa phương đều hạn hẹp, cơ chế chính sách biên mậu chưa thật sự thông thoáng.
- Tác động: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, bảo đảm an sinh xã hội cho tỉnh Attapeu; mở rộng không gian phát triển kinh tế đối ngoại và khẳng định vị trí trung chuyển của tỉnh Kon Tum; góp phần củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào và thúc đẩy liên kết nội vùng Tam giác phát triển CLV.
- Điểm nổi bật: Quan hệ hai tỉnh mang tính toàn diện, gắn bó chặt chẽ giữa an ninh biên giới với phát triển kinh tế; phát huy tối đa lợi thế tuyến hành lang ra biển qua cặp Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y - Phoukeua; sự tương đồng văn hóa - tộc người là chất keo tự nhiên thắt chặt tình đoàn kết giữa cư dân hai bên.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên tái hiện một cách hệ thống, đầy đủ và khách quan toàn bộ tiến trình lịch sử quan hệ giữa tỉnh Attapeu và tỉnh Kon Tum từ năm 1991 đến năm 2017.
- Khai thác và công bố khối lượng lớn tư liệu gốc từ các cơ quan lưu trữ của hai tỉnh Kon Tum và Attapeu, giúp bổ khuyết khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử địa phương vùng Bắc Tây Nguyên - Nam Lào và làm phong phú thêm kho tàng sử liệu về quan hệ quốc tế Việt Nam - Lào thời kỳ đổi mới.
- Làm rõ tính quy luật, những đặc điểm mang tính đặc thù và các bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng mô hình hợp tác cấp địa phương giáp biên giới.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum và Ủy ban Chính quyền tỉnh Attapeu trong việc hoạch định các chương trình hợp tác song phương giai đoạn tiếp theo.
- Đề xuất các giải pháp thực tế: tiếp tục nâng cấp hạ tầng Cửa khẩu Quốc tế Phoukeua - Bờ Y; cải cách thủ tục hải quan và biên phòng; tăng cường liên kết đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp; đẩy mạnh quản lý cư dân và ngăn chặn dứt điểm tình trạng di cư tự do, kết hôn không giá thú vùng biên; duy trì phối hợp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Mốc thời gian dừng lại ở năm 2017 nên chưa cập nhật được các chuyển biến hợp tác mới trong khuôn khổ các hiệp định song phương gần đây; nguồn tài liệu sơ cấp phía Lào chủ yếu là tài liệu từ Sở Ngoại vụ và Đoàn Thanh niên tỉnh Attapeu, chưa tiếp cận sâu văn bản lưu trữ cấp huyện và tài liệu bằng tiếng địa phương của các bộ tộc thiểu số.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu mở rộng quan hệ Attapeu - Kon Tum giai đoạn từ năm 2018 đến nay; nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình sinh kế và chuyển đổi văn hóa - xã hội của các cộng đồng dân tộc thiểu số xuyên biên giới (Giẻ Triêng - Talieng, Brâu) dưới tác động của tiến trình hội nhập Tam giác phát triển CLV.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác quản lý và hoạch định chính sách: Là tài liệu tham khảo cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Sở Ngoại vụ, Sở Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Kon Tum và các cơ quan hữu quan tỉnh Attapeu trong việc xây dựng kế hoạch hợp tác phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh biên giới.
- Đối với công tác nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp tư liệu chuyên khảo phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu các chuyên đề Lịch sử quan hệ quốc tế, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Lịch sử Lào, Quan hệ đối ngoại Việt Nam - Lào tại các trường đại học, viện nghiên cứu và trường chính trị địa phương.
- Đối với công tác tuyên truyền: Phục vụ công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hai tỉnh, đặc biệt là thế hệ trẻ, về truyền thống gắn bó và tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án căn cứ vào sự kiện nào để xác định mốc thời gian 1991 và 2017?
Mốc mở đầu 1991 là thời điểm tái lập tỉnh Kon Tum (tách ra từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum vào ngày 12/8/1991), mở ra thời kỳ Kon Tum trực tiếp thiết lập và thực hiện các thỏa thuận hợp tác đối ngoại với Attapeu với tư cách đơn vị hành chính độc lập. Mốc kết thúc 2017 đánh dấu 40 năm ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (18/7/1977 - 18/7/2017) và 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (5/9/1962 - 5/9/2017).
2. Đường biên giới chung và các huyện tiếp giáp giữa Attapeu và Kon Tum có đặc điểm gì?
Hai tỉnh có đường biên giới chung dài 75,169 km. Phía Attapeu gồm địa bàn 2 huyện Sanxay và Phouvong; phía Kon Tum gồm địa bàn 2 huyện Ngọc Hồi và Đăk Glei. Đây là khu vực có địa hình đồi núi hiểm trở, giữ vị trí then chốt về an ninh quốc phòng của vùng Bắc Tây Nguyên và Nam Lào.
3. Những dân tộc bản địa nào có mối quan hệ cội nguồn dòng tộc sinh sống ở khu vực biên giới hai tỉnh?
Vùng biên giới hai tỉnh có các tộc người cùng nguồn gốc thuộc ngữ hệ Môn - Khmer: nhóm Giẻ Triêng (huyện Đăk Glei, Kon Tum) cùng dân tộc với người Talieng (Nam Lào); nhóm Gia Rai (Kon Tum) có liên hệ với nhóm cư dân Anak (huyện Sanxay, Attapeu); người Brâu cư trú tại làng Đăk Mế (xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, Kon Tum) di cư từ vùng Nam Lào sang hơn một thế kỷ trước.
4. Tuyến giao thông huyết mạch nào kết nối trực tiếp Attapeu và Kon Tum?
Đó là tuyến Đường 18B từ trung tâm tỉnh Attapeu kết nối với Quốc lộ 40 của tỉnh Kon Tum (và thông ra biển qua Quốc lộ 19) thông qua cặp Cửa khẩu Quốc tế Phoukeua - Bờ Y. Đây là con đường ngắn nhất để các tỉnh Nam Lào thông ra các cảng biển miền Trung Việt Nam.
5. Đơn vị nào của tỉnh Kon Tum chịu trách nhiệm chính trong công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại Attapeu?
Đó là Đội K53 thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kon Tum. Đội K53 đã liên tục thực hiện nhiệm vụ khảo sát, tìm kiếm, cất bốc và hồi hương hài cốt quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh trong các thời kỳ chiến tranh trên địa bàn tỉnh Attapeu và các tỉnh Nam Lào từ năm 1995 đến năm 2017.
Kết luận
Luận án Quan hệ Attapeu (Lào) - Kon Tum (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2017 của tác giả Lê Thanh Hải là công trình sử học được nghiên cứu công phu, nghiêm túc và có độ tin cậy khoa học cao. Tác phẩm đã tái hiện toàn diện tiến trình phát triển của quan hệ song phương trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh biên giới, kinh tế, văn hóa và giáo dục trong 27 năm đổi mới. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ các bài học lịch sử và đặc điểm hợp tác giáp biên của vùng lõi Tam giác phát triển CLV, mà còn cung cấp nguồn sử liệu giá trị phục vụ công tác hoạch định chính sách đối ngoại và giáo dục truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.