Chương 1: Tổng quan - Chương 2: Cơ sở lý thuyết - Chương 3: Thiết kế nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 1.7 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu này có thể giúp cho các nhà quản lý và điều hành doanh nghiệp hiểu được ý định tiêu dùng sản phẩm túi phân hủy sinh học của người tiêu dùng có nhận thức về trách nhiệm xã hội. Từ đó, có cái nhìn cụ thể hơn và dễ dàng đưa ra các chiến lược phù hợp cho doanh nghiệp. Nghiên cứu cung cấp một nguồn tài liệu tham khảo tốt cho các nghiên cứu của các doanh nghiệp về túi phân hủy sinh học trong giai đoạn 2020-2022 – giai đoạn được xem là sự lên ngôi của các sản phẩm túi phân hủy sinh học tại thị trường Việt Nam. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung Chương 2 tập trung xem xét các định nghĩa, khái niệm, lý thuyết nền và các nghiên cứu trước đây có liên quan đến túi phân hủy sinh học.
Đề xuất mô hình nghiên cứu về ý định tiêu dùng túi phân hủy sinh học dựa trên các nghiên cứu trước đây. Tiếp theo, các khái niệm về nhận thức các vấn đề môi trường, nhận thức về túi phân hủy sinh học, tính sẵn có của sản phẩm, giá sản phẩm, học vấn của người tiêu dùng và ảnh hưởng xã hội lần lượt được xem xét, thảo luận để đưa vào mô hình nghiên cứu như là những nhân tố quan trọng có tác động đến ý định tiêu dùng túi phân hủy sinh học.1 Sản phẩm xanh (Green product) Sản phẩm xanh là những sản phẩm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn trước mắt của người tiêu dùng, đồng thời cũng đem lại lợi ích cho môi trường trong thời gian dài (Follows và Jobber, 2000). Đó là sản phẩm kết hợp các chiến lược trong việc tái chế hoặc có nội dung tái chế, giảm đóng gói hoặc sử dụng các nguyên vật liệu ít độc để làm giảm các tác động đến môi trường tự nhiên (Chen và Chai, 2010). Hay, tổng quát lại, sản phẩm xanh là một sản phẩm sinh thái, sản phẩm thân thiện với môi trường.
Đó có thể là một sản phẩm không gây ô nhiễm cho hành tinh, hay gây thương hại đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời có thể tái chế hoặc bảo tồn (Vazifehdoust và cộng sự, 2013).2 Tiêu dùng xanh (Green consumption) Năm 1963, Tổ chức quốc tế của hiệp hội người tiêu dùng (International Organization of Consumer Unions – IOCU) lần đầu tiên đề xuất khái niệm về tiêu dùng xanh, và họ cũng cho rằng người tiêu dùng nên có các nghĩa vụ xanh. Năm 1991, tổ chức này thông qua “nghị quyết tiêu dùng xanh” để kêu gọi người tiêu dùng trên thế giới ủng hộ đề án dán nhãn sinh thái (eco-labeling) (Liao và cộng sự, 2010). 7 Mainieri và cộng sự (1997) cho rằng: tiêu dùng xanh là các hành vi mua sắm sản phẩm thân thiện và có lợi ích tới môi trường.3 Túi phân hủy sinh học (Biodegradable bag) Trên thế giới hiện đang sử dụng rất nhiều loại túi nhựa, trong đó có các nhóm chính như: túi nhựa truyền thống, túi nhựa tự hủy, túi sinh học, túi phân hủy sinh học. Túi nhựa truyền thống (Traditional plastic bag) là một phát minh vĩ đại của nhân loại khi chúng có độ bền rất cao.
Chính vì vậy, túi nhựa được xem là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường khi không thể bị tiêu hủy trong thời gian ngắn; giết chết nhiều sinh vật biển khi chúng không thể tiêu hóa được loại vật liệu này; cũng như gây biến đổi gen khi con người hoặc động vật ăn phải chúng (1millionwomen. Túi nhựa tự hủy (Degradable plastic bag) được làm từ các vật liệu nhựa, nhưng được bổ sung thêm một số hợp chất khác nhằm làm chúng phân hủy nhanh hơn thành những hạt nhựa nhỏ hơn khi được thải ra môi trường bên ngoài. Xét về mức độ bảo vệ môi trường, túi tự hủy vẫn gây hại cho môi trường khi chúng rất dễ ngấm vào các nguồn nước và đất (1millionwomen. Túi sinh học (bioplastic bag) về bản chất được hình thành từ những vật liệu thực vật như bột bắp, bột mì có khả năng được phân hủy bởi vi khuẩn hoặc các vi sinh vật sống.
Túi phân hủy sinh học (Biodegradable bag) là túi được làm từ những chiết xuất đường từ những loại cây trồng như bắp, lúa mì, mía, … để chuyển hóa thành polylactic acids (PLAs), hay nó có thể được làm từ polyhydroxyalkanoates (PHAs) được hình thành từ vi sinh vật. Túi PLA thường được sử dụng trong bao bì thực phẩm, trong khi PHA thường được sử dụng trong các thiết bị y tế như chỉ khâu hoặc các miếng dán lên vết thương (Sarah Gibbens – National Geographic – 2018). Túi phân hủy sinh học hay túi có thể phân hủy được làm từ các vật liệu hữu cơ, thông thường từ bột bắp, dễ dàng bị phân hủy. Những loại túi này mất tối đa 180 ngày 8 để phân hủy, kết quả từ những hoạt động của sự có mặt của các vi sinh vật có trong môi trường phân hủy hoặc các bãi chôn lấp (Sabrina C.
Túi phân hủy sinh học - sản phẩm xanh, sản phẩm thân thiện với môi trường - đang được khuyến khích sử dụng rộng rãi thay thế cho túi nhựa thông thường. Trong đó, bao gồm cả túi đay, túi giấy, chúng hoàn toàn tự phân hủy và bền vững cho sự phát triển nông nghiệp trên thế giới (International Journal of Learning and Development ISSN 2164-4063, 2013).2 LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 2.1 Trách nhiệm xã hội (Social responsibility) Theo định nghĩa của Sri E. Sreenivasulu (2013), trách nhiệm xã hội là một khuôn đổ về đạo đức và những đề xuất mà một thực thể, có thể là một tổ chức hoặc một cá thể, phải có hành động vì lợi ích của xã hội theo quy mô lớn. Trách nhiệm xã hội là nhiệm vụ của tất cả các cá thể phải thực hiện nhằm duy trì sự cân bằng giữa kinh tế và hệ sinh thái.
Theo định nghĩa này thì trách nhiệm xã hội sẽ bao gồm: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) và Trách nhiệm xã hội cá nhân (Individual Social Responsibility – ISR).2 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) Trong vài thập kỷ gần đây, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đã trở thành đề tài nghiên cứu mới, những vẫn còn rất nhiều tranh cãi về một khái niệm nhất quán về CSR. Wood (2010) (trích nghiên cứu của Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận, 2017) cho rằng CSR rất khó để định nghĩa, các đối tượng khác nhau nhìn nhận CSR khác nhau. Mỗi ngành nghề, tổ chức và chính phủ nhìn nhận CSR theo những góc độ và quan điểm riêng, từ đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Tuy vậy, tất cả các định nghĩa đều thể hiện rằng công ty nên đáp ứng các kỳ vọng của xã hội khi hoạch định các chiến lược quản lý môi trường (Gossling và Vocht, 2007, trích nghiên cứu của Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận, 2017).
Bowen (1953) cho rằng CSR là 9 nghĩa vụ của người làm kinh doanh trong việc đề xuất và thực thi các chính sách không làm tổn hại đến quyền và lợi ích của người khác. Theo định nghĩa của Paul Hohnen (2007), CSR là một cái nhìn của doanh nghiệp và nhiệm vụ của doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có một trách nhiệm giữa các công ty là phải theo đuổi những mục tiêu ngoài việc tối đa hóa lợi nhuận và một trách nhiệm giữa các bên liên quan của công ty để giữ công ty luôn có trách nhiệm với những hành động của mình. Định nghĩa của ISO 26000 về CSR như sau: CSR là trách nhiệm của một tổ chức về những tác động của những quyết định và hành động của tổ chức đó lên xã hội và môi trường thông qua hành vi minh bạch và đạo đức phù hợp với sự phát triển bền vững và phúc lợi cho xã hội. Trong đó, có tính đến kỳ vọng của các bên có liên quan, tuân thủ pháp luật hiện hành và phù hợp với những chuẩn mực về hành vi trên thế giới, và được tích hợp trong tổ chức.
Một định nghĩa được nhiều nghiên cứu lựa chọn đó là định nghĩa của Carroll (1979, 1991), trách nhiệm xã hội là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và lòng từ thiện của một tổ chức mà xã hội mong đợi trong mỗi thời điểm nhất định. Bốn loại trách nhiệm này là thành phần cấu tạo nên CSR và được miêu tả như một kim tự tháp.1Mô hình kim tự tháp của Carroll (1991) Nguồn: thecsrjournal.3 Trách nhiệm xã hội cá nhân (Individual Social Responsibility – ISR) Trách nhiệm xã hội cá nhân (ISR) liên quan đến những cá thể trở nên có trách nhiệm trong những hành đồng của họ, mà có ảnh hưởng trực tiếp lên cộng đồng bên ngoài những nhóm gần gũi với họ nhất (GradesFixer, 2018). Lời hứa của những cá nhân trong cộng đồng chủ động tham gia vào sự phát triển của cộng đồng và làm việc cùng nhau để giải quyết những vấn đề cộng đồng là yếu tố quan trọng nhất của ISR. Một trong những mục đích quan trọng nhất của ISR là làm cho cộng đồng và xã hội nói chung trở nên tốt đẹp hơn.
Benabou and Tirole (2009) khảo sát động lực của những cá nhân về hành vi trách nhiệm xã hội. Họ tìm thấy rằng ISR được dẫn dắt bởi lòng vị tha nội tại (intrinsic altruism), khuyến khích vật chất (material incentives), và lo lắng cho xã hội hoặc lòng tự trọng. Hơn nữa, những tác giả tìm thấy những động cơ đó phụ thuộc lẫn nhau, và cả những người tạo ra chính sách hoặc những nhà hoạt động xã hội phải có một sự am hiểu về những tương tác này ảnh hưởng hiệu quả đến sự thỏa mãn của cá nhân để tham gia vào các hành vi có trách nhiệm xã hội.3 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI 2.1 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng (Kotler, 2001) Theo Philip Kotler (2001), mô hình hành vi người tiêu dùng giải thích về cách vận hành và ra quyết định của người tiêu dùng chịu sự tác động của các yếu tố bên trong và cả bên ngoài. Mô hình hành vi mua của người tiêu dùng của Phillip Kotler mô tả mối quan hệ giữa các yếu tố: tiếp thị (sản phẩm, khuyến mãi, địa điểm, giá sản phẩm), các yếu tố bên ngoài (kinh tế, văn hóa, chính trị, công nghệ) và những phản ứng đáp lại của người tiêu dùng (tâm lý, xã hội, văn hóa).