Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự biến đổi và giá trị tiên lượng của procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sốc nhiễm khuẩn sau phẫu thuật ổ bụng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu sự biến đổi và giá trị tiên lượng của procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sốc, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
174
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. NHIỄM KHUẨN NGOẠI KHOA

1.1.1. Các định nghĩa chung về nhiễm khuẩn

1.1.2. Các cập nhật về định nghĩa NKN và SNK

1.1.3. Nhiễm khuẩn ngoại khoa (surgical infection)

1.2. Nhiễm khuẩn ổ bụng (Intra-abdominal infection)

1.2.1. Chẩn đoán nhiễm khuẩn ổ bụng

1.2.2. Theo dõi và chẩn đoán nhiễm khuẩn sau phẫu thuật

1.2.3. Tiên lượng bệnh nhân NKOB

1.2.3.1. Các yếu tố tiên lượng độc lập
1.2.3.2. Các thang điểm tiên lượng

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu procalcitonin trong nhiễm khuẩn nặng

Nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng là một vấn đề nghiêm trọng trong y học, đặc biệt trong lĩnh vực hồi sức. Tỷ lệ tử vong cao từ 30-60% ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng đã thúc đẩy nghiên cứu về các dấu ấn sinh học như procalcitonin. Procalcitonin được xem là một chỉ số quan trọng trong việc tiên lượng và theo dõi tình trạng nhiễm khuẩn. Nghiên cứu này nhằm đánh giá giá trị của procalcitonin trong việc tiên lượng nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng.

1.1. Định nghĩa và vai trò của procalcitonin trong nhiễm khuẩn

Procalcitonin là một tiền chất của calcitonin, được sản xuất chủ yếu bởi tế bào C của tuyến giáp. Trong trường hợp nhiễm khuẩn, nồng độ procalcitonin trong huyết thanh tăng lên nhanh chóng, giúp đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn. Nghiên cứu cho thấy procalcitonin có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với các dấu ấn khác như CRP trong việc phân biệt nhiễm khuẩn nặng.

1.2. Tình trạng nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng

Nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng thường xảy ra do sự xâm nhập của vi khuẩn vào ổ bụng, dẫn đến viêm phúc mạc và các biến chứng nghiêm trọng. Việc theo dõi và tiên lượng tình trạng này là rất quan trọng để giảm thiểu tỷ lệ tử vong và biến chứng cho bệnh nhân.

II. Thách thức trong việc tiên lượng nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật

Tiên lượng nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng gặp nhiều khó khăn do các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu. Các dấu hiệu như sốt, mệt mỏi, và tăng bạch cầu có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố phẫu thuật. Điều này làm cho việc chẩn đoán và theo dõi tình trạng nhiễm khuẩn trở nên phức tạp hơn. Hơn nữa, các thang điểm như SOFA và APACHE II mặc dù có giá trị nhưng lại phức tạp và tốn thời gian trong việc tính toán.

2.1. Các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu

Triệu chứng lâm sàng của nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật thường không rõ ràng. Các triệu chứng như sốt, mệt mỏi, và tăng bạch cầu có thể bị che lấp bởi các tác động của phẫu thuật, dẫn đến chẩn đoán muộn và tăng nguy cơ tử vong.

2.2. Hạn chế của các thang điểm tiên lượng hiện tại

Mặc dù các thang điểm như SOFA và APACHE II đã được sử dụng rộng rãi, nhưng chúng có nhược điểm là phức tạp và không đặc hiệu cho nhiễm khuẩn. Điều này làm giảm khả năng ứng dụng trong thực tế lâm sàng, đặc biệt là ở bệnh nhân sau phẫu thuật.

III. Phương pháp nghiên cứu procalcitonin trong tiên lượng nhiễm khuẩn

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích nồng độ procalcitonin huyết thanh ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng. Các chỉ số như nhiệt độ, số lượng bạch cầu, và nồng độ CRP cũng được theo dõi để đánh giá mối liên quan với nồng độ procalcitonin. Phương pháp này giúp xác định giá trị tiên lượng của procalcitonin trong việc dự đoán kết quả điều trị.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng tại bệnh viện. Các bệnh nhân được chọn lọc dựa trên tiêu chí chẩn đoán nhiễm khuẩn nặng và được theo dõi nồng độ procalcitonin trong suốt quá trình điều trị.

3.2. Phân tích dữ liệu và kết quả

Dữ liệu thu thập từ các bệnh nhân sẽ được phân tích để xác định mối liên quan giữa nồng độ procalcitonin và các chỉ số lâm sàng khác. Kết quả sẽ được so sánh với các thang điểm tiên lượng hiện tại để đánh giá độ chính xác của procalcitonin trong việc tiên lượng nhiễm khuẩn nặng.

IV. Ứng dụng thực tiễn của procalcitonin trong điều trị

Procalcitonin đã được chứng minh là một chỉ số hữu ích trong việc theo dõi và tiên lượng bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật. Nghiên cứu cho thấy nồng độ procalcitonin có thể giúp đánh giá đáp ứng điều trị và tiên lượng kết quả điều trị. Việc sử dụng procalcitonin có thể giúp tối ưu hóa liệu pháp kháng sinh và can thiệp phẫu thuật, từ đó giảm thiểu biến chứng và tử vong.

4.1. Giá trị của procalcitonin trong theo dõi điều trị

Nồng độ procalcitonin có thể thay đổi nhanh chóng trong quá trình điều trị, giúp đánh giá hiệu quả của liệu pháp kháng sinh. Sự gia tăng hoặc giảm nồng độ procalcitonin có thể phản ánh tình trạng nhiễm khuẩn và đáp ứng điều trị của bệnh nhân.

4.2. Tối ưu hóa liệu pháp điều trị dựa trên procalcitonin

Việc theo dõi nồng độ procalcitonin có thể giúp bác sĩ điều chỉnh liệu pháp kháng sinh kịp thời, từ đó giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc và cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu procalcitonin

Nghiên cứu về procalcitonin trong tiên lượng nhiễm khuẩn nặng sau phẫu thuật ổ bụng mở ra hướng đi mới trong việc cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân. Procalcitonin không chỉ giúp đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn mà còn có thể hỗ trợ trong việc tối ưu hóa liệu pháp điều trị. Tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định giá trị của procalcitonin trong các tình huống lâm sàng khác nhau.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo về procalcitonin

Cần thực hiện thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn vai trò của procalcitonin trong các loại nhiễm khuẩn khác nhau, cũng như trong các tình huống lâm sàng đa dạng.

5.2. Tương lai của procalcitonin trong y học

Procalcitonin có thể trở thành một công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán và tiên lượng nhiễm khuẩn, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và giảm thiểu tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự biến đổi và giá trị tiên lượng của procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng sốc nhiễm khuẩn sau phẫu thuật ổ bụng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. NHIỄM KHUẨN NGOẠI KHOA 1. Các định nghĩa chung về nhiễm khuẩn Các định nghĩa về nhiễm khuẩn đã đƣợc Bonne và cộng sự giới thiệu trong y văn năm 1989 [29]. Hội nghị đồng thuận lần thứ nhất, năm 1991 [29] giữa Hội các bác sĩ Lồng ngực Hoa Kỳ và Hội các bác sĩ Điều trị tích cực Hoa Kỳ thống nhất đƣa ra những định nghĩa về nhiễm khuẩn nặng (NKN và sốc nhiễm khuẩn (SNK , hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan (Bảng 1.

Các định nghĩa về nhiễm khuẩn và hậu quả liên quan [29] Nhiễm khuẩn (infection): đƣợc định nghĩa khi “xâm nhập của vi khuẩn vào tổ chức vốn bình thƣờng là v khuẩn” H i chứng đáp ứng viêm hệ thống (Systemic Inflammatory Response Syndrome - SIRS): là tình trạng đáp ứng viêm toàn thân của cơ thể đối với các tác nhân cấp tính khác nhau, đặc trƣng bởi hai hay nhiều hơn trong các triệu chứng lâm sàng sau: (1 Sốt > 38 °C hay < 36 °C; (2 Nhịp tim > 90 lần/p. (3 Nhịp thở nhanh > 20/ph t; hoặc PaCO2 < 32 mmHg.000/mm3, hay < 4000 /mm3, hoặc bạch cầu non trong máu ngoại vi > 10. H i chứng nhiễm khuẩn (sepsis) là một đáp ứng toàn thân do nhiễm vi khuẩn gây bệnh và đƣợc định nghĩa khi có sự hiện diện của SIRS bên cạnh có bằng chứng rõ ràng hoặc đƣợc giả định do nhiễm vi khuẩn gây bệnh. Nhiễm khuẩn nặng (NKN) (severe sepsis) là tình trạng nhiễm khuẩn phù hợp với các tiêu chuẩn đã đề cập ở trên và kết hợp với rối loạn chức năng cơ quan, tƣới máu kém hoặc hạ huyết áp.

Sốc nhiễm khuẩn (SNK) (septic shock) là tình trạng nhiễm khuẩn gây tụt huyết áp kéo dài (huyết áp tâm thu < 90 mm Hg hoặc giảm trên 40 mm Hg so với mức huyết áp ban đầu của bệnh nhân và kh ng đáp ứng với bù dịch đơn thuần. H i chứng suy chức năng đa cơ quan (MODS) là một tình trạng thay đổi chức năng đa cơ quan cấp tính, trong đó chức năng cơ quan kh ng đủ năng lực để duy trì sự ổn định nội m i nếu kh ng có can thiệp điều trị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các cập nhật về định nghĩa NKN và SNK Những giới hạn của các định nghĩa về nhiễm khuẩn của hội nghị đồng thuận lần thứ nhất là thiếu tiêu chuẩn đặc hiệu trong chẩn đoán nhiễm khuẩn.

Vì vậy, năm 2001 Hội nghị đồng thuận giữa các Hội Hồi sức Hoa Kỳ và Hội Hồi sức Châu Âu đã đề nghị bổ sung thêm các tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn vào các định nghĩa. Cùng với sự ra đời của chiến dịch giảm thiểu tử vong do nhiễm khuẩn toàn cầu (SSC năm 2002 [30], các tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn liên tục đƣợc bổ sung, cập nhật qua các khuyến cáo SSC năm 2004 [31], năm 2008 [32] và năm 2012 [33]. Năm 2016, các chuyên gia của hiệp hội hồi sức Châu Âu và Hoa Kỳ đã đồng thuận đƣa ra những cập nhật mới về định nghĩa nhiễm khuẩn [34] với 3 điểm chính nhƣ sau: - Thống nhất bỏ thuật ngữ “severe sepsis” vì bản thân từ “sepsis” đã mang nghĩa là tình trạng nhiễm khuẩn nặng. Do đó tất cả các bệnh nhân theo định nghĩa trƣớc đây là hội chứng nhiễm khuẩn (sepsis và nhiễm khuẩn nặng (severe sepsis nay đƣợc định nghĩa chung là nhiễm khuẩn nặng (sepsis).

- Nhiễm khuẩn nặng (sepsis đƣợc định nghĩa là một tình trạng rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng do đáp ứng kh ng đƣợc điều phối của cơ thể đối với nhiễm khuẩn. Rối loạn chức năng cơ quan có thể đƣợc xác định bằng sự gia tăng ít nhất 2 điểm trong thang điểm SOFA liên quan đến nhiễm khuẩn. - Sốc nhiễm khuẩn (SNK đƣợc định nghĩa là một phân nhóm của NKN trong đó có sự hiện diện của những bất thƣờng đặc biệt nặng nề về tuần hoàn, chuyển hóa tế bào. Trên lâm sàng, chẩn đoán SNK khi bệnh nhân NKN cần phải sử dụng các thuốc vận mạch để duy trì huyết áp động mạch trung bình ≥ 65 mmHg và có nồng độ lactat huyết thanh > 2 mmol/l (>18mg/dl) sau khi đã bù đầy đủ thể tích tuần hoàn.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhiễm khuẩn ngoại khoa (surgical infection) Mặc dù những định nghĩa chung về NKN và SNK đã đƣợc c ng nhận rộng rãi nhƣng những định nghĩa về NKN, SNK năm 2001 vẫn kh ng định nghĩa cụ thể về nhiễm khuẩn ngoại khoa. Một định nghĩa chính xác, rõ ràng về nhiễm khuẩn ngoại khoa rất cần thiết trong thực hành lâm sàng cũng nhƣ trong nghiên cứu. Năm 2011, Moore và cộng sự [4] đã đƣa ra các định nghĩa về NKN ngoại khoa dựa trên các định nghĩa về NKN đã đƣợc thống nhất.

Các tác giả định nghĩa nhiễm khuẩn nặng ngoại khoa là các bệnh nhân có hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (Systemic Inflammatory Response Syndrome - SIRS) do nguồn gốc nhiễm khuẩn cần thiết phải can thiệp phẫu thuật hoặc bệnh nhân có SIRS do nhiễm khuẩn xuất hiện trong vòng 14 ngày sau khi có can thiệp phẫu thuật lớn (phẫu thuật lớn đƣợc định nghĩa là phẫu thuật cần gây mê toàn thân trên 1 giờ. Trên cơ sở tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn chức năng theo định nghĩa NKN và SNK năm 2001, Moore và cộng sự m tả các tiêu chuẩn chẩn đoán NKN và SNK ngoại khoa nhƣ sau [2], [4]: * Nhiễm khuẩn nặng: NKN là những bệnh nhân có hội chứng đáp ứng viêm hệ thống do nhiễm khuẩn cần phẫu thuật và có rối loạn chức năng các cơ quan sau: - Thần kinh: điểm GCS <13 điểm khi chẩn đoán NKN hoặc điểm GCS <13 điểm trong vòng 24 giờ đầu. - Hô hấp: PaO2/FiO2 <250 (< 200 ở bệnh nhân có thƣơng tổn phổi tiên phát) - Thận: Lƣu lƣợng nƣớc tiểu <0,5 mL/kg/giờ trong ít nhất 2 giờ mặc dù đã bù đủ dịch hoặc creatinine > 176,8 μmol/L (2 mg/dL) - Đông máu: INR > 1,5 hoặc tiểu cầu < 100 x 109/L - Gan: Tăng bilirubin máu (bilirubin toàn phần > 4 mg/dL (70 μmol/L)) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Tụt HA: HATT < 90 mmHg, HATB < 65 mmHg hoặc HATT giảm > 40 mmHg so với HA nền của bệnh nhân. * Sốc nhiễm khuẩn: SNK là các bệnh nhân NKN có rối loạn chức năng tim cấp tính hoặc có giảm tƣới máu tổ chức: - Kh ng đáp ứng bù dịch: truyền 20mL/kg dung dịch tinh thể hoặc ALTMTT ≥ 8mmHg và cần thuốc vận mạch để nâng HATB ≥65mmHg.

- Giảm tƣới máu tổ chức: Tăng lactate máu > 4 mmol/L 1. Nhiễm khuẩn ổ bụng (Intra-abdominal infection) Đối với các bệnh nhân nhiễm khuẩn ngoại khoa cần phẫu thuật, nhiễm khuẩn ổ bụng (NKOB chiếm khoảng gần 70% các trƣờng hợp [4]. NKOB đã đƣợc quan tâm nghiên cứu và phân loại khá rõ ràng: - NKOB (intra-abdominal infection) đƣợc định nghĩa là sự nhiễm khuẩn của bất kỳ một cơ quan nào trong ổ bụng và th ờng liên quan đến phúc mạc bao bọc xung quanh tạng đó [35]. Tùy theo sự lan tỏa của nhiễm khuẩn, NKOB đƣợc chia thành 2 loại: NKOB không có biến chứng và NKOB biến chứng.

+ NKOB không biến chứng là nhiễm khuẩn chỉ khu tr ở một cơ quan duy nhất và kh ng thƣơng tổn giải phẫu làm thủng ống tiêu hóa. + NKOB biến chứng là tình trạng nhiễm khuẩn vƣợt ra khỏi ranh giới của cơ quan nhiễm khuẩn, làm thƣơng tổn giải phẫu thành ống tiêu hóa và gây ra viêm ph c mạc. Tùy theo đáp ứng của cơ thể, tình trạng nhiễm khuẩn có thể bị giới hạn tại chỗ tạo thành viêm ph c mạc khu tr hoặc kh ng tự giới hạn đƣợc và gây ra viêm ph c mạc lan tỏa [37]. Viêm ph c mạc lan tỏa là một tình trạng cấp cứu ngoại khoa và là nguyên nhân của hầu hết các trƣờng hợp bệnh nhân NKOB nặng cần can thiệp phẫu thuật trên lâm sàng [37], [38], [39], [40].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sinh lý bệnh NKOB Ph c mạc là lớp thanh mạc bao phủ toàn bộ mặt ngoài của các tạng và mặt trong thành bụng. Ph c mạc đƣợc che phủ liên tục bởi các tế bào trung biểu m dẹt. Trong điều kiện bình thƣờng, ổ ph c mạc có khoảng 30 mL dịch màu vàng, có tỷ trọng 1,016 và lƣợng protein dƣới 30 g/L, dƣới 300 bạch cầu/mL, chủ yếu là các đại thực bào, nồng độ các chất điện giải tƣơng tự huyết tƣơng.

Nhờ có lƣợng dịch này mà giúp các tạng di chuyển trên nhau dễ dàng. Khi có vi khuẩn xâm nhập vào ổ ph c mạc, cơ thể sẽ phản ứng lại theo 3 cách [36], [39]: - Phản ứng của các đại thực bào tiêu diệt các tác nhân tại chỗ - Hệ tĩnh mạch cửa vận chuyển các tác nhân gây bệnh tới các tế bào Kuffer ở gan để tiêu diệt vi khuẩn. - Hệ bạch mạch dẫn lƣu về các hạch bạch huyết kế cận trong ổ bụng để các tế bào miễn dịch tiêu diệt vi khuẩn Trong tình trạng bệnh l , ph c mạc phản ứng với mọi tác nhân kích thích bằng cách bài tiết rất nhiều dịch vào ổ ph c mạc. Cơ chế bài tiết dịch là cơ chế tích cực xảy ra chủ yếu ở khu vực mạc nối lớn.

Dịch tiết chứa nhiều fibrin và mucin, ngoài ra còn nhiều tế bào thực bào. Áp lực âm đƣợc tạo ra khi giãn cơ hoành gi p làm cho dịch ph c mạc có thể di chuyển về phía trên và đƣợc dẫn lƣu theo hệ thống bạch huyết dƣới hoành trở về tuần hoàn chung. Tuy nhiên khi bị nhiễm khuẩn thì cũng có một lƣợng lớn vi khuẩn và các sản phẩm đáp ứng viêm cũng đƣợc di chuyển theo hình thức này vào hệ thống tĩnh mạch qua ống ngực [36]. Điều này giải thích bệnh nhân viêm ph c mạc lan tỏa có nguy cơ rất cao gây viêm phổi nặng cũng nhƣ gây ra NKN/SNK trên lâm sàng [41].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vi khuẩn gây NKOB Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn ổ bụng rất đa dạng, thay đổi phụ thuộc vào cơ quan nhiễm khuẩn và loại NKOB nhƣ từ cộng đồng hay nhiễm khuẩn bệnh viện hoặc VPM tiên phát, thứ phát và thì 3 [36], [42], [43]. Các trƣờng hợp viêm ph c mạc thứ phát thƣờng gặp các vi khuẩn Gram âm ái khí nhƣ E. Coli, Klebsiella pneumonia hay trực khuẩn mủ xanh, trong khi đó các trƣờng hợp viêm ph c mạc thì ba hoặc áp xe ổ bụng thƣờng hay gặp cầu khuẩn Gram dƣơng và vi khuẩn kị khí [36], [40], [44].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ