LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu (XNK) là một trong 10 chỉ tiêu Thống kê Quốc gia thuộc lĩnh vực thống kê giá được Tổng cục Thống kê tính toán và công bố hàng quý, 6 tháng, 9 tháng và năm. Chỉ số giá XNK có ý nghĩa quan trọng đối với việc đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động ngoại thương của một quốc gia với các quốc gia khác và các vùng lãnh thổ khác trên thế giới. Thông tin chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu và tỷ giá thương mại hàng hóa là một trong những căn cứ cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý nhà nước, phục vụ đánh giá mức độ tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu qua đó để quản lý, điều hành, hoạch định chính sách đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng.
Ngoài ra các chỉ số này giúp các doanh nghiệp tính toán, xác định được hiệu quả và định hướng cho sản xuất, XNK hàng hoá của doanh nghiệp, đồng thời giúp các nhà nghiên cứu và các đối tượng khác trong xã hội nhìn nhận, đánh giá đúng và chuyên sâu hơn về các loại hàng hóa trong nước và trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế nước ta có sản xuất hàng hóa và hoạt động XNK phát triển nhanh thì giá cả hàng hóa và sự biến động của giá cả hàng hóa luôn nhận được sự quan tâm của các doanh nghiệp, bộ ngành và Chính phủ. Từ khi Việt Nam mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá phát triển rất mạnh mẽ, tổng kim ngạch hàng hóa XNK tăng cao từ 20 - 30%/năm và đạt xấp xỉ 483,2 tỉ USD (9 tháng năm 2021) theo số liệu từ Tổng cục Hải quan ngày 4/10/2021. Việc giao thương của Việt Nam đã kết nối với hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới (gần 200 nước và vùng lãnh thổ) với chủng loại hàng hóa phong phú, mở rộng bao trùm hầu hết 97 Chương của Danh mục Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam.
Do đó, để có những đánh giá đúng đắn về chỉ số giá XNK và đề ra những phương hướng quản lý hiệu quả ở tầm vi mô, vĩ mô thì cần phải hiểu rõ về chỉ số giá này. Đồng thời, phương pháp biên soạn chỉ số giá XNK cần hoàn thiện để phản ánh 2 đầy đủ sự biến động của giá XNK trong một thời gian nhất định. Hiện nay, chỉ số giá XNK được tính toán và công bố theo Phương án điều tra giá xuất khẩu, nhập khẩu thời kỳ 2015-2020 của Tổng cục Thống kê. Tuy nhiên, hàng năm cơ cấu mặt hàng, mã mặt hàng, chủng loại mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu có nhiều thay đổi nên cần thực hiện rà soát để cập nhật mặt hàng thường xuyên.
Phương pháp tính chỉ số giá XNK theo Phương án điều tra của Tổng cục Thống kê đảm bảo tính pháp lý về số liệu, nhưng còn một số hạn chế, như: điều tra chọn mẫu với quy mô lớn đòi hỏi tốn kém về nguồn lực ( tài chính và nhân lực); Danh mục mặt hàng điều tra giá XNK (giỏ hàng hóa), quyền số tính chỉ số XNK được sử dụng cố định 5 năm, không cập nhật, thay đổi hàng năm dẫn đến việc tính toán chỉ số giá XNK thiếu chính xác, kết quả chưa phản ánh đúng xu hướng biến động giá thực tế trên thị trường, đặc biệt trong hai năm gần đây do ảnh hưởng của dịch Covid -19, nhiều nhóm hàng hóa không xuất khẩu, hay nhập khẩu. Trong khi một số nhóm hàng được bổ sung nhưng chưa được thay thế kịp thời vào danh mục hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam (ví dụ: Test Covid – 19…), theo đó thông tin giá XNK thu thập phục vụ tính chỉ số XNK chưa phản ánh đúng, chính xác trong bối cảnh hiện nay. Để nâng cao chất lượng thông tin thống kê chỉ số giá XNK nhằm phục vụ tính các chỉ tiêu thống kê kinh tế tổng hợp theo giá so sánh, các thông tin đầu vào tính chỉ số giá XNK, như: Giá điều tra; quyền số… cần đạt được các tiêu chí chất lượng thông tin thống kê, như: tính phù hợp; tính chính xác; tính kịp thời; tính so sánh,… Do vậy, việc hoàn thiện phương pháp tính chỉ số giá XNK đòi hỏi cần cải tiến chọn mẫu điều tra và cập nhật thường xuyên hơn quyền số tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu rất cần thiết. Từ đó, phản ánh tương đối đầy đủ sự thay đổi về quy mô, cơ cấu trị giá các nhóm hàng xuất, nhập khẩu trên thị trường; đồng thời cập nhật các nhóm hàng mới xuất hiện trên thị trường cũng như loại bỏ những nhóm hàng không còn tồn tại trên thị trường xuất khẩu, nhập khẩu do mặt hàng lỗi thời, hay không có nhu cần xuất, nhập khẩu ra khỏi mẫu điều tra.
Do vậy, xuất phát từ những lý do trên tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam” làm luận văn tốt 3 nghiệp. Luận văn đã nêu ra những ưu điểm, hạn chế việc tính toán chỉ số giá xuất, nhập khẩu ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá ở Việt Nam trong thời gian tới, đảm bảo cập nhật phương pháp luận thống kê quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng thông tin thống kê giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng quát: Hoàn thiện phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam theo công thức Chained Laspeyers với quyền số cập nhật hàng năm ở Việt Nam.
Từ đó, khắc phục nhược điểm về chọn mẫu, nguồn dữ liệu tính, quyền số, công thức tính chỉ số giá theo Phương án đang sử dụng tại Tổng cục Thống kê hiện nay. - Mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, hệ thống cơ sở lý luận về chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu; Thứ hai, phân tích thực trạng về phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay; Thứ ba, định hướng hoàn thiện về phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam, về giỏ hàng hóa, quyền số, công thức tính chỉ số giá; Thứ tư, tính thử nghiệm và phân tích chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam dựa vào nguồn dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam. Phạm vi không gian: nội dung nghiên cứu phạm vi tính CSG XNK hàng hóa ở Việt Nam Phạm vi thời gian: Tính thử chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam thời kỳ 2020-2021 4 4.
Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: - Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu từ Tổng cục Thống kê để tính thử nghiệm theo phương pháp được tác giả đề xuất; - Phương pháp tổng hợp thống kê: Phân tổ thống kê, bảng thống kê, đồ thị thống kê để phân tích, đánh giá chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu thời kỳ 2020 - 2021; - Phương pháp tính chỉ số trong thống kê: Tính thử nghiệm chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu theo phương pháp cập nhật quyền số hàng năm được mô tả cụ thể, chi tiết và điều kiện áp dụng ở Việt Nam. Những đóng góp của luận văn Một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận về các phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hiện nay; Hai là, tìm hiểu kinh nghiệm của một số quốc gia tính toán, công bố chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu; Tìm hiểu những bài nghiên cứu về chỉ số giá xuất, nhập khẩu trong nước. Ba là, nghiên cứu, phân tích thực trạng tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hiện nay tại Việt Nam; Bốn là, tìm hiểu những ưu điểm, nhược điểm của các phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hiện nay tại Việt Nam; Năm là, xây dựng quy trình tính toán chi tiết chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu tại Việt Nam; Sáu là, nghiên cứu, phân tích kết quả tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu dựa trên nguồn dữ liệu từ Tổng cục Thống kê theo phương pháp hiện nay và phương pháp được đề xuất; Bảy là, đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao công tác thống kê giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam. Xây dựng và hoàn thiện phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam.
Kết cấu của luận văn 5 Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu Chương 2: Thực trạng và hoàn thiện phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam Chương 3: Tính thử nghiệm chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam 6 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH CHỈ SỐ GIÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU Trong chương 1, tác giả tập trung làm rõ một số khái niệm về chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu, những ý nghĩa, vai trò của chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu trong vi mô và vĩ mô. Từ đó, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu. Để làm căn cứ đánh giá thực trạng tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hiện nay, tác giả đã nghiên cứu các tài liệu trong nước, tài liệu quốc tế và phân tổ tổng quan nghiên cứu phương pháp tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu theo các nội dung cụ thể. Những vấn đề chung về giá xuất khẩu, giá nhập khẩu và chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu 1.
Một số khái niệm - Giá cả hàng hóa là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa (giá cả hàng hóa thường được gọi tắt là giá hàng hóa). - Chỉ số giá là chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá cả chung của các loại hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và không gian. - Chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa Việt Nam là thước đo mức độ biến động của giá hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu, không bao gồm các loại xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam. - Giá xuất khẩu: là số tiền Việt Nam bán một đơn vị hàng hóa cho bạn hàng nước ngoài chỉ gồm giá trị hàng hóa (C), là giá giao hàng tại biên giới Việt Nam tính theo loại giá FOB (và tương đương).