ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một bệnh mãn tính, ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống và tuổi thọ của người bệnh cũng như hệ thống chăm sóc sức khỏe [22]. Tại Việt Nam, theo điều tra quốc gia về tỷ lệ đái tháo đường năm 2008, tỷ lệ mắc đái tháo đường type 2 tại các thành phố lớn là 7-10%, tăng 300% trong vòng 10 năm, đây là một con số đáng báo động [11]. Cùng với sự phát triển kinh tế, thu nhập của người dân cũng tăng. Họ có thể dành thêm chi phí cho chăm sóc sức khỏe, thuốc men và các biện pháp hỗ trợ sức khỏe khác, chẳng hạn như thực phẩm chức năng (TPCN) để hỗ trợ điều trị các bệnh mãn tính như đái tháo đường.
Đặc biệt, các sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên ngày càng được ưa chuộng bởi tính an toàn và có lợi cho sức khỏe. Trước nhu cầu đó, số lượng lớn các loại thực phẩm chức năng, các sản phẩm từ thiên nhiên đã xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường mặc dù chất lượng không được đảm bảo. Từ năm 2007 đến năm 2016, FDA đã xác định được 776 loại thực phẩm chức năng bị pha trộn. Hầu hết các sản phẩm này được quảng cáo để tăng cường sinh lý (45,5%), giảm cân (40,9%) hoặc tăng cơ (11,9%), với 157 sản phẩm bị pha trộn hơn một loại thuốc tổng hợp.
Trong đó, các tân dược được trộn trái phép phổ biến nhất là sildenafil dùng để tăng cường sinh lý (47,0%), sibutramine để giảm cân (84,9%) và steroid tổng hợp để tăng cơ (89,1%) [31]. Năm 2020, Mohammad Kamil và cộng sự [33] đã chỉ ra 5 sản phẩm có chứa glibenclamid dù được quảng cáo có nguồn gốc từ tự nhiên được bày bán trên thị trường Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE). Không chỉ glibenclamid, các chất khác trong nhóm sulfonylure cũng thường được trộn trái phép trong TPCN do ít tác dụng phụ trên tiêu hóa. Phát hiện tân dược trong TPCN, thực phẩm bảo vệ sức khỏe (TPBVSK) hay các chế phẩm từ thiên nhiên là một thách thức lớn do các chế phẩm có thành phần phức tạp, yêu cầu phương pháp phân tích có độ đặc hiệu cao.
Hơn nữa, sulfonylure có tác dụng sinh học ở liều thấp, chỉ từ 5-15 mg, do vậy phương pháp phân tích cần có độ nhạy cao để có thể phát hiện dược chất khi trộn vào chế phẩm có khối lượng lớn. Trên thế giới và Việt Nam, để xác định tân dược trộn trong thực phẩm chức năng, nhiều nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp như sắc ký lớp mỏng (TLC) [25][38], sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC) [2][7][12], sắc ký lớp lỏng kết hợp tán xạ Raman trên bề mặt (TLC-SERS) [24], sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [5][15][27][35], sắc ký lỏng kết hợp khối phổ hai lần (LC-MS/MS) [2][8][26], … Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp sắc ký lỏng – khối phổ phân giải cao với độ đặc hiệu cao, có thể phát hiện được các chất trộn trái phép mà không cần chất chuẩn đối chiếu dựa trên ngân hàng phổ, đồng thời định lượng những chất dựa vào chuẩn đối chiếu đã có. 1 Để góp phần vào công tác kiểm nghiệm chất trộn trái phép trong thực phẩm bảo vệ sức khỏe hỗ trợ điều trị tiểu đường, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu phương pháp sàng lọc và định lượng một số chất nhóm sulfonylure trong TPBVSK hỗ trợ điều trị tiểu đường bằng LC-HRMS”, với mục tiêu là : 1. Xây dựng phương pháp sàng lọc và định lượng một số chất nhóm sulfonylure (glibenclamid, gliclazid, glimepirid, glipizid) trong TPBVSK hỗ trợ điều trị tiểu đường bằng LC-HRMS.
Ứng dụng phương pháp sàng lọc và định lượng một số chất nhóm sulfonylure trong một số mẫu TPBVSK hỗ trợ điều trị tiểu đường trên thị trường bằng LC- HRMS. Tình hình trộn trái phép tân dược trong thực phẩm bảo vệ sức khỏe 1. Tình hình sử dụng thực phẩm bảo vệ sức khỏe hiện nay Thực phẩm bảo vệ sức khỏe là một loại thực phẩm chức năng [6]. Trong thế kỷ trước, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến ngành công nghiệp thực phẩm chức năng (TPCN), và từ những năm 80, TPCN thực sự gây được sự chú ý ở Nhật Bản.
Ngành công nghiệp thực phẩm chức năng có doanh thu ước tính hơn 30 tỷ USD ở Mỹ và hơn 100 tỷ USD trên toàn cầu. Nhiều người tiêu dùng tin rằng thực phẩm chức năng an toàn hơn và có thể hiệu quả hơn các thuốc điều trị [19]. Việc sử dụng TPCN đã tăng lên trong những thập kỷ gần đây. Hơn 30% trẻ em ở Hoa Kỳ sử dụng TPCN thường xuyên [19].
Các quốc gia khác như Úc và Trung Quốc cũng có mức tiêu thụ cao, với tỷ lệ lần lượt là 22,6% và 32,4% trẻ em sử dụng TPCN [34]. Tại Tanzania, tỷ lệ sử dụng TPCN ở người trưởng thành là 46,5%, trong đó 36,9% cho biết sử dụng TPCN thường xuyên và 63,1% không thường xuyên [32]. TPCN đứng ở ranh giới giữa thuốc và thực phẩm, thường có dạng bào chế giống như thuốc (như viên hoàn, viên nén, viên sủi bọt, viên nang, siro.) và được bán tại các cơ sở bán thuốc. Điều này dễ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, đặc biệt khi một số người bán hàng cũng không phân biệt được đâu là TPCN, đâu là thuốc.
Thời gian qua, xu hướng sản xuất, buôn bán hàng giả, gian lận thương mại nói chung, trong đó có các mặt hàng là thuốc tân dược, thực phẩm bảo vệ sức khỏe không ngừng gia tăng, với mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng. Một số sản phẩm không có số đăng ký, được sản xuất thủ công, nhỏ lẻ, thậm chí không có bảng thành phần, được bày bán với cái mác gia truyền, độc quyền. Các chế phẩm thảo dược, thực phẩm bổ sung và thực phẩm thông thường bị pha trộn với các loại thuốc và hóa chất ngày càng gia tăng. Đặc biệt là những sản phẩm hỗ trợ giảm cân, hạ đường huyết, tăng cường sinh lý nam.
Thực trạng trộn trái phép thuốc tân dược trong thực phẩm bảo vệ sức khỏe Thực phẩm bảo vệ sức khỏe (TPBVSK) có thành phần chủ yếu là các vitamin, khoáng chất, acid amin, acid béo, enzyme, probiotic và các chất có hoạt tính sinh học khác; hoặc các chất có nguồn gốc tự nhiên, bao gồm động vật, khoáng vật và thực vật dưới dạng chiết xuất, phân lập, cô đặc và chuyển hóa [6]. Nếu muốn tình trạng bệnh được cải thiện, bệnh nhân phải sử dụng TPBVSK trong thời gian khá dài Tuy nhiên, một số đối tượng đã trộn lẫn một lượng nhỏ tân dược vào TPBVSK để sản phẩm có tác dụng nhanh chóng. Điều này rất nguy hiểm, đặc biệt đối với những bệnh nhân mắc bệnh mãn tính đang phải điều trị bằng thuốc như đái tháo đường. Chưa kể liều dùng của các thuốc nhóm sulfonylure khá thấp, chỉ cần một lượng nhỏ cũng có thể có tác dụng sinh học.
Do đó nguy cơ dẫn đến quá liều thuốc là rất cao. 3 Tân dược có thể được nghiền thành bột mịn, trộn cùng với các thành phần khác rồi đóng thành nang, chế biến thành kẹo,. để dễ dàng trà trộn vào những sản phẩm chất lượng khác, khiến người tiêu dùng không phát hiện. Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Dược liệu và Y học Truyền thống Zayed (ZCHRTM) dưới sự quản lý của Bộ Y tế (DOH) tại Abu Dhabi đã mua các mẫu TPBVSK hỗ trợ điều trị tiểu đường từ thị trường cũng như các mẫu được cung cấp bởi DOH, MOHAP và các tổ chức chính phủ, VIP và các nguồn khác.
Sau khi phân tích đã chỉ ra có sự pha trộn trong nhiều sản phẩm dược liệu [31]. Một số nghiên cứu ở Trung Quốc [22], [25], Nhật Bản [27] và Việt Nam [2], [5], [7], [8], [9], [10], [12], [13], [15], [24] đã phát hiện thuốc tân dược đái tháo đường trộn trái phép trong các sản phẩm TPCN. Trong các nghiên cứu đó, phát hiện thuốc tân dược điều trị đái tháo đường thường được trộn trái phép là Metformin và nhóm Sulfonylure. Có thể, do 2 nhóm thuốc này được sử dụng phổ biến, rộng rãi, tác dụng mạnh; giá thành rẻ và ít tác dụng phụ trên hệ tiêu hóa hơn các nhóm tân dược điều trị đái tháo đường còn lại nên thường được trộn trái phép.
Do đó, nghiên cứu này được thực hiện để sàng lọc và định lượng 4 chất thuộc nhóm thuốc Sulfonylure là Glibenclamid, Gliclazid, Glimepirid, Glipizid. Tổng quan các hợp chất nghiên cứu - Cơ chế tác dụng: kích thích trực tiếp tế bào beta đảo Langerhan của tuyến tuỵ tăng sản xuất insulin làm giảm nồng độ glucose trong máu. Làm tăng số lượng receptor của insulin ở các tế bào, đặc biệt là các tế bào mỡ, hồng cầu, bạch cầu đơn nhân, do đó làm tăng tác dụng của insulin. Ức chế nhẹ tác dụng của glucagon.
Thuốc không có tác dụng khi cơ thể không còn khả năng tiết insulin [16]. - Tác dụng không mong muốn: Hạ glucose huyết , rối loạn tiêu hoá, vàng da ứ mật, mỏi cơ, viêm mạch dị ứng, chóng mặt, rối loạn tâm thần, ban da, rối loạn tạo máu…. Cấu trúc, tính chất hóa lý 1. 4 - Tính chất: Bột kết tinh trắng, không tan trong nước và ether, hơi tan trong dicloromethan, khó tan trong methanol và ethanol 96%, tan trong các dung dịch kiềm loãng.
Nóng chảy ở 169oC đến 174oC. Gliclazid (GLIC)[4] - Công thức hóa học: C15H21N3O3S - Khối lượng phân tử: M= 323,4 - Tên khoa học: 1-(azabicyclo [3,3,0] oct-3-yl)-3-p-tolylsulfonylure - Tính chất: Bột kết tinh trắng hoặc hầu như trắng. Thực tế không tan trong nước, dễ tan trong dicloromethan, hơi tan trong aceton, khó tan trong ethanol. - Tính chất: Bột trắng hoặc gần như trắng, không tan trong nước, tan trong dimethylformamid, ít tan trong dicloromethan, rất ít tan trong methanol.
5 - Tính chất: Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng, gần như không tan trong nước, tan ít trong methylclorid, aceton. Thực tế không tan trong ethanol 96%. Hòa tan tốt trong dung dịch kiềm. Các phương pháp phân tích nhóm sulfonylure trộn trái phép trong TPBVSK 1.
Các phương pháp phân tích ở Việt Nam Hiện tại ở Việt Nam đã có các nghiên cứu xác định các chất giảm glucose máu trộn trái phép trong các chế phẩm đông dược và thực phẩm chức năng như TLC- SERS[24], HPTLC[2][7][12], HPLC [5][15], LC-MS/MS[2][8]. Nghiên cứu của PGS. Nguyễn Thị Kiều Anh và cộng sự [2] đã sử dụng LC- MS/MS để 4 loại thuốc chống đái tháo đường tổng hợp Glibenclamid, Gliclazid, Glimepirid, Glipzid trong 184 mẫu trộn trái phép trong chế phẩm đông dược. Các mẫu ở các dạng viên nén, viên nang cứng, bột, viên hoàn và cao.
Kết quả có 8/41 mẫu trộn dược chất hạ đường huyết nhóm sulfunylure chỉ dương tính với glibenclamid. LOD của các chất trong khoảng từ 0,001 đến 0,033 ng/ml. LOQ của các chất trong khoảng từ 0,003 đến 0,01 ng/ml.