Chương 1: Trình bày tổng quan về các dạng phá hủy trong cột bê tông cốt thép do tác dụng của ngoại lực gây ra; các phương pháp dự đoán khả năng chịu lực cắt và mô men lớn nhất của cột. Chương 2: Đề xuất phương pháp dự đoán dạng phá hủy cho cột bê tông cốt thép sử dụng thép đai dạng xoắn ốc. Chương 3: Thu thập dữ liệu thí nghiệm và kiểm chứng phương pháp đề xuất. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Các dạng phá hủy do ngoại lực của cột bê tông cốt thép Các lực tác dụng lên cột bao gồm: lực dọc, lực cắt và mô men. Các dạng phá hủy của cột bê tông cốt thép do tác dụng tổng hợp của các ngoại lực trên gây ra. Trong thực tế, các nhà nghiên cứu thường chia ra thành 2 dạng phá hủy chính: phá hủy do lực cắt (phá hoại giòn) và phá hủy do mô men (phá hoại dẻo). Phá hủy do lực cắt được biết đến là dạng phá hủy rất nguy hiểm, xảy ra đột ngột, không có tín hiệu báo trước, vì vậy thường gây ra thiệt hại rất lớn về người và tài sản.
Dạng phá hủy do lực cắt thường được quan sát thấy ở các công trình bị phá hủy trong các trận động đất, do lực xô ngang của xung dao động do động đất gây ra. Đặc điểm của dạng phá hủy này là thường quan sát thấy vết nứt lớn hình thành và tạo một góc từ 30-60o so với phương thẳng đứng (Hình 1.1) gọi là vết cắt.1a cho thấy, ban đầu các vết cắt xuất hiện theo phương xiên 1 góc khoảng 30-60o, sau đó độ rộng của vết nứt ngày càng phát triển và gây ra phá hoại nghiêm trọng co cột (Hình 1. Đặc biệt là các vết nứt này phát triển ăn sâu vào lớp bê tông lõi, làm cho lớp bê tông lõi bị phá vỡ, gây ra hiện tượng mất khả năng chịu lực đột ngột của cột. Nguyên nhân chủ yếu xảy ra phá hủy do lực cắt là khả năng chịu cắt của cột được thiết kế nhỏ hơn lực cắt do ngoại lực tác dụng, trong khi khả năng chịu mô men của cột lớn hơn rất nhiều do với khả năng chịu cắt (thường xảy ra khi bố trí hàm lượng thép đai thấp, hàm lượng thép dọc cao).
Các cột bị phá hoại do lực cắt thường có độ biến dạng rất thấp, bởi vì có thể cột bị phá hoại do lực cắt đạt đến giới hạn trước khi khả năng chịu mô men đạt đến điểm chảy dẻo. Để cột không bị phá hoại do lực cắt thì bắt buộc phải nâng cao khả chịu chịu cắt của cột bằng cách tăng cường bố trí các thép đai, tăng khả năng chịu nén của bê tông. Cột bị phá hủy do lực cắt: (a) sự phát triển vết cắt ; (b) vết cắt tại thời điểm cột bị phá hoại Phá hủy do mô men hay còn được gọi là phá hủy do biến dạng dẻo, dạng phá hoại này xảy ra từ từ vì cần có thời gian để phát triển biến dạng đến một giới hạn nhất định. Chính vì vậy mà chúng ta có thể quan sát thấy mức độ biến dạng của cột trước khi chúng bị phá hoại, vì vậy có thời gian để di rời người và tài sản, giảm thiểu được thiệt hại.
Trong quá trình chịu lực, khi đạt đến điểm chảy dẻo, khả năng chịu của cột không tăng, nhưng khả năng chịu biến dạng tiếp tục tăng. Đến một giới hạn nào đó, khả năng chịu lực bắt đầu mất dần và cột bị phá hủy hoàn toàn. Để đánh giá khả năng chịu biến dạng của cột, thông số độ bền biến dạng được xác định bằng tỷ số giữa giá trị biến dạng lớn nhất và giá trị biến dạng tại điểm chảy dẻo được đề xuất. Thông thường các cột bị phá hủy do mô men có độ bền biến dạng lớn hơn 4 (có nghĩa là khả năng chịu biến dạng gấp 4 lần giá trị biến dạng tại điểm chảy dẻo).
Đặc điểm của cột bị phá hủy do biến dạng dẻo là các vết nứt thường song song với tiết diện, không có vết nứt mở rộng và xiên 1 góc khoảng 30-60o như trong phá hủy do lực cắt, ở chân cột dần xuất hiện vùng phá hủy nghiêm trọng (vùng chảy dẻo, vùng có giá trị mô men lớn).2 minh họa cột bị phá hủy do mô men. Cột bị phá hủy do mô men Như đã phân tích trên, các dạng phá phá hủy của cột liên quan trực tiếp đến khả năng chịu lực cắt và khả năng chịu mô men lớn nhất của cột. Gần đây một số nhà khoa học đã phát triển các dạng thép đai dạng xoắn ốc (Hình 1.3) áp dụng cho các cột bê tông cốt thép hình bầu dục và hình chữ nhật [4,5,7,9,13,15,16,20,21]. Các kết quả thí nghiệm đã chỉ ra rằng, cột bê tông cốt thép sử dụng thép đai dạng xoắn ốc có khả năng chịu lực và biến dạng lớn hơn các cột sử dụng thép đai dạng thông thường, trong khi hàm lượng thép đai sử dụng ít hơn đáng kể.
Các thí nghiệm về các cột sử dụng 2 đai xoắn ốc (Hình 1.3a) được thực hiện bởi Benzoni và các cộng sự [4-5], Correal và các cộng sự [7], Igase và các cộng sự [9], McLean và Buckingham [13], Tanaka và Park [20], Wu và các cộng sự [21]; 7 đai xoắn ốc (Hình 1.3b) được thực hiện bởi Ou và các cộng sự [15-16]; 6 đai xoắn ốc (Hình 1.3c) được thực hiện bởi Wu và các cộng sự [21], và 11 đai xoắn ốc (Hình 1.3d) được thực hiện bởi Ou và các cộng sự [15]. Đây là một dạng kết cấu mới, chính vì vậy việc dự đoán dạng phá hủy của chúng giúp các kỹ sư thiết kế được các kết cấu làm việc hiệu quả cả về mặt kỹ thuật và kinh tế, tránh cho cột bị phá hủy do lực cắt gây ra. Để dự đoán được chính xác dạng phá hủy của chúng cần phải dự đoán chính xác khả năng chịu lực cắt và mô men tương ứng của chúng. 5 (a) 2 đai xoắn ốc (b) 7 đai xoắn ốc (c) 6 đai xoắn ốc (d) 11 đai xoắn ốc Hình 1.
Tiết diện cột sử dụng đai dạng xoắn ốc 1. Các phương pháp dự đoán khả năng chịu lực cắt của cột Đa số các nghiên cứu trước đều chỉ ra rằng, khả năng chịu lực cắt của cột giảm dần theo độ biến dạng ngang của cột. Dưới đây trình bày một số phương pháp dự đoán khả năng chịu cắt của cột được đề xuất bởi các nghiên cứu trước. Theo tiêu chuẩn Caltrans SDC 2019 Tiêu chuẩn Caltrans SDC [6] là tiêu chuẩn thiết kế công trình chịu động đất của bang California – Mỹ, khả năng chống cắt của cột (Vn ) được xác định từ công thức (1.7): Vn Vc Vs (1.1) Av f yh D Vs (1.8 Ag Trong đó: Vn = Khả năng chống cắt của cột (N); Vc = Khả năng chịu cắt của bê tông (N); Vs = Khả năng chịu cắt của thép đai (N); Av Tổng diện tích tiết diện của thép đai, Av n Ab (mm2); D Đường kính đai hình tròn hoặc xoắn ốc (mm); f yh Cường độ chảy dẻo của thép đai (MPa); n Số đai hình tròn hoặc hình xoắn ốc; s Khoảng cách giữa hai thanh thép đai (mm); Ab Diện tích tiết diện của một đai (mm2); Ag Tổng diện tích tiết diện cột (mm2); Ae Diện tích làm việc hiệu quả của tiết diện (mm2); vc Ứng suất của bê tông (MPa); f c Cường độ chịu nén của bê tông (MPa); 1 ; 2 Các hệ số; s Hàm lượng thép đai; d Chỉ số độ bền dẻo; P Lực nén (N).
Theo Priestly (1994) Theo Priestly và các cộng sự (1994) [17], công thức xác định khả năng chịu cắt của cột được xác định từ công thức (1. Vn Vc Vs Va (1.8) Vc k fc ' Ae (1.9) nAb f yh D Vs cot (1.10) 2 s Do c Va P tan P (1.11) L Trong đó: Va Khả năng kháng cắt do ảnh hưởng của lực dọc (N); Do Đường kính tiết diện (mm); Góc cắt, tạo bởi trục thẳng đứng và vết cắt, được giả thiết bằng 30o; L Chiều cao cột (mm); c Chiều cao vùng nén của tiết diện (mm); Góc nghiêng được sử dụng để tính toán khả năng kháng cắt do ảnh hưởng của lực dọc, được minh họa như Hình 1. 7 P P VP L C/2 VP P c P Do Hình 1. Minh họa ảnh hưởng của lực dọc Trong công thức (1.9): k hệ số phụ thuộc vào chỉ số độ bền dẻo, được xác định như Hình 1.
0,29 HÖ sè k 0,1 0 2 4 6 8 ChØ sè ®é bÒn dÎo Hình 1. Giá trị của hệ số k tương ứng với chỉ số độ bền dẻo 1. Theo Sezen (2004) Theo Sezen và Moehle (2004) [18], khả năng chịu cắt của cột được xác định theo công thức (1.1), với khả năng chịu cắt của thép đai và bê tông được xác định theo công thức (1. Hệ số k phụ thuộc vào chỉ số độ bền dẻo và được xác định dựa theo Hình 1.6 nAb f yh D Vs k cot (1.5 f c ' Ag Trong đó: b Chiều rộng tiết diện cột.
Các đại lượng khác đã được giải thích ở các phần trước.2 0 0 1 2 3 4 5 6 7 8 ChØ sè ®é bÒn dÎo Hình 1. Mối quan hệ giữa hệ số k trong công thức của Sezen và chỉ số độ bền dẻo 1. Theo Aschheim and Moehle (1992) Theo Aschheim và Moehle (1992) [3], khả năng chịu cắt của cột được xác định theo công thức (1. Trong đó khả năng chịu cắt của thép đai được xác định theo công thức (1.10) với góc cắt 30 , khả năng chịu cắt của bê tông được xác o định theo công thức (1.14), như sau: P Vc 0.
Các phương pháp dự đoán mô men lớn nhất trong cột 1. Theo tiêu chuẩn ACI-318-19 Tiêu chuẩn thiết kế ACI-318-19 [1] của Mỹ đề xuất phương pháp dự đoán mô men lớn nhất trong cột dựa trên mối quan hệ giữa mô men và lực dọc. Trong đó bê tông được mô phỏng với cường độ tiêu chuẩn, không kể đến ảnh hưởng bị 9 ép ngang bởi thép đai. Mối quan hệ ứng suất và biến dạng của thép dọc được mô tả như Hình 1.7, với giá trị của f y là cường độ chảy dẻo tiêu chuẩn.
Chú ý rằng, theo ACI-318-19, cường độ của thép được sử dụng là 1,25 f y. Nếu chỉ sử dụng f y thì ta thu được giá trị mô men danh nghĩa của cột.