Tổng quan nghiên cứu

Khai thác than là ngành công nghiệp nền tảng phục vụ an ninh năng lượng quốc gia, tuy nhiên hoạt động khai thác than lộ thiên quy mô lớn đã và đang tạo ra những thách thức môi trường nghiêm trọng. Trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2009, tổng sản lượng than nguyên khai khai thác lộ thiên tại Việt Nam đạt 154,75 triệu tấn, chiếm khoảng 63% tổng sản lượng toàn ngành than, đồng thời phát thải khối lượng đất đá bóc lên tới 1.198,1 triệu mét khối với hệ số bóc đất đá bình quân đạt 8,0 mét khối trên một tấn than. Hoạt động này làm biến dạng hoàn toàn địa hình tự nhiên, hủy hoại thảm thực vật bản địa và hình thành các bãi thải khổng lồ có chiều cao tầng từ 50 mét đến hơn 100 mét với góc dốc sườn tầng vượt quá 32 độ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là tình trạng xói mòn, sạt lở đất đá nghiêm trọng trong mùa mưa bão tại các bãi thải vùng than Quảng Ninh, làm bồi lắng hệ thống thủy văn suối Hà Tu, đe dọa trực tiếp đến hồ Khe Cá và môi trường sinh thái vịnh Hạ Long. Mục tiêu cụ thể của đề tài là khảo sát, đánh giá đặc tính địa chất, cơ lý hóa của đất đá bãi thải; đồng thời tuyển chọn, thử nghiệm các loài thực vật có khả năng thích nghi cao nhằm phủ xanh, cải tạo nền đất và kiểm soát xói lở.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện thí điểm tại bãi thải Chính Bắc thuộc Công ty Cổ phần Than Núi Béo - Vinacomin trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong khung thời gian từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 12 năm 2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đưa ra giải pháp sinh học giúp nâng độ che phủ thực vật từ mức dưới 10% lên hơn 75%, giảm thiểu trên 80% nguy cơ sạt trượt sườn dốc và tạo tiền đề phục hồi hệ sinh thái bền vững cho các vùng mỏ khai khoáng sau đóng cửa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phục hồi sinh thái và công nghệ xử lý môi trường bằng thực vật. Lý thuyết phục hồi sinh thái khẳng định việc can thiệp sinh học đúng quy luật diễn thế tự nhiên sẽ rút ngắn thời gian phục hồi rừng từ 20 đến 30 năm xuống còn 3 đến 5 năm thông qua việc sử dụng các loài cây tiên phong có khả năng cố định đạm và cải tạo đất.

Mô hình nghiên cứu ứng dụng cấu trúc thảm thực vật đa tầng kết hợp giữa cây thân thảo ngầm chống xói mòn và cây thân gỗ che bóng cố định dinh dưỡng. Khung lý thuyết bao gồm bốn khái niệm then chốt:

  • Đất đá thải mỏ lộ thiên: Hỗn hợp vật liệu bở rời gồm cát kết, cuội kết, bột kết và sét than sau nổ mìn, nghèo dinh dưỡng hữu cơ và có độ rỗng lớn.
  • Độ ổn định góc dốc sườn tầng: Góc nghiêng giới hạn của taluy bãi thải, quyết định khả năng chịu lực cắt và nguy cơ trượt lở dưới tác động của trọng lực và nước mưa.
  • Che phủ sinh học bề mặt: Tỷ lệ diện tích đất được bảo vệ bởi tán lá và thảm mục thực vật nhằm triệt tiêu động năng hạt mưa rơi trực tiếp.
  • Cố định đạm sinh học: Cơ chế cộng sinh giữa vi khuẩn nốt sần Rhizobium tại rễ cây họ đậu giúp chuyển hóa nitơ tự do trong khí quyển thành dạng đạm dễ tiêu cho đất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp về điều kiện khí tượng giai đoạn 2005 đến 2011 với nhiệt độ trung bình năm 23,8 độ C và lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 2.000 mm từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quảng Ninh, kết hợp tài liệu địa chất khai trường từ Công ty Cổ phần Than Núi Béo.

Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao gồm 10 vị trí lấy mẫu đất đại diện trên các bãi thải chính vùng Quảng Ninh tại ba khu vực: Cẩm Phả, Hòn Gai và Uông Bí. Phương pháp chọn mẫu tuân thủ tiêu chuẩn TCVN 4046:1985 và TCVN 5297:1995, thực hiện gạt bỏ lớp bề mặt và lấy mẫu đất ở độ sâu từ 10 đến 20 cm để đảm bảo tính khách quan của tầng đất nền sinh trưởng.

Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm được chuẩn hóa đồng bộ: thành phần cơ giới đất xác định bằng phương pháp ống hút Robinson; độ chua đo bằng pH-meter trong huyền phù dung dịch KCl 1M theo tỷ lệ đất trên dung dịch là 1:2,5; hàm lượng mùn tổng số xác định bằng phương pháp Tiurin; hàm lượng đạm dễ tiêu phân tích bằng phương pháp Kjeldahl; lân dễ tiêu theo phương pháp Oniani; kali dễ tiêu xác định qua dịch chiết amon axetat 1M bằng quang kế ngọn lửa Matlova; hàm lượng kim loại nặng gồm Chì, Cadimi, Asen, Kẽm, Đồng được định lượng chính xác trên máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm định lượng chính xác các rào cản hóa lý của đất thải phục vụ đối chiếu trực tiếp với quy chuẩn môi trường.

Thử nghiệm đồng ruộng được bố trí trên diện tích 1,5 ha tại bãi thải Chính Bắc, chia thành 12 khối thực nghiệm với kích thước 6 mét x 6 mét mỗi khối. Mật độ cây gỗ trồng là 2.500 cây trên một hecta với khoảng cách 2 mét x 2 mét, mật độ trồng cỏ là 6.600 khóm trên một hecta với cự ly 1,2 mét x 1,2 mét. Nghiên cứu kiểm chứng 4 công thức bổ sung giá thể kết hợp bón lót từ 100 đến 200 gam NPK trên một hố: công thức 1 sử dụng 0,06% tro nhiệt điện; công thức 2 sử dụng vật liệu mịn sau sàng than; công thức 3 sử dụng 10% đất màu tầng 20 cm; công thức 4 sử dụng 0,03% tro rơm rạ. Timeline theo dõi sinh trưởng thực nghiệm kéo dài liên tục 12 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích địa chất và cơ lý cho thấy đất đá bãi thải Chính Bắc mang cấu trúc địa tầng phân dị mạnh, bao gồm cuội sạn kết chiếm 35,4%, cát kết chiếm 30,8%, bột kết chiếm 20,0% và sét kết chiếm 11,5%. Các chỉ tiêu cơ lý ghi nhận độ rỗng đất đá thải đạt mức 21%, trọng lượng thể tích khô là 2,05 tấn trên một mét khối, trọng lượng thể tích bão hòa nước đạt 2,26 tấn trên một mét khối, lực dính kết nội tại rất thấp ở mức 2,0 tấn trên một mét vuông và góc ma sát trong là 30 độ. Độ dốc sườn tầng dao động từ 30 đến 35 độ khiến nền bãi thải tơi xốp, khả năng giữ nước kém và dễ bị sạt lở khi có mưa lớn.

Thứ hai, kết quả quan trắc chất lượng hóa học đất tại bãi thải Chính Bắc ghi nhận độ chua pH KCl là 4,98 thuộc nhóm đất chua vừa; tổng hàm lượng mùn đạt 4,23%; hàm lượng lân dễ tiêu P2O5 đạt 4,85 mg trên 100 gam đất; hàm lượng kali dễ tiêu K2O đạt 5,76 mg trên 100 gam đất, thuộc nhóm đất nghèo kali. Phân tích kim loại nặng cho kết quả rất khả quan: hàm lượng Chì đạt 34,5 mg/kg, Kẽm đạt 97 mg/kg, Asen đạt 3,81 mg/kg và Cadimi đạt 0,28 mg/kg. Toàn bộ các chỉ tiêu kim loại nặng này đều thấp hơn từ 2 đến 7 lần so với ngưỡng giới hạn tối đa cho phép của Quy chuẩn Việt Nam QCVN 03:2008/BTNMT đối với đất sử dụng cho mục đích lâm nghiệp (quy định giới hạn Chì là 100 mg/kg, Kẽm là 200 mg/kg, Asen là 12 mg/kg và Cadimi là 2 mg/kg).

Thứ ba, thử nghiệm sinh học cho thấy sự phân hóa rõ rệt về khả năng thích ứng của 7 loài cây trồng. Cỏ Vetiver, cây Chít và cây Le đạt tỷ lệ sống sót từ 85% đến 92% trên các sườn dốc ngặt nghèo nhờ đặc tính bám rễ sâu. Đối với cây thân gỗ, Keo tai tượng và Keo lá tràm thích nghi tốt nhất với tỷ lệ sống đạt trên 80% sau 12 tháng. Công thức 3 bổ sung 10% đất màu và công thức 1 bổ sung 0,06% tro nhiệt điện giúp tăng tỷ lệ sống của cây trồng thêm từ 15% đến 22% so với mô hình đối chứng không bổ sung giá thể.

Thảo luận kết quả

Khả năng sinh trưởng vượt trội của cỏ Vetiver trên sườn bãi thải được giải thích bởi hệ rễ cọc dạng chùm ăn sâu từ 3 đến 4 mét thẳng đứng vào lòng đất đá, kết hợp biên độ chịu nhiệt rộng từ âm 22 độ C đến 55 độ C và dải pH dung nạp từ 3,3 đến 12,5. Trong khi đó, các loài cây họ đậu như Keo lá tràm và Keo tai tượng sinh trưởng mạnh nhờ các nốt sần rễ cố định đạm, giải quyết triệt để sự thiếu hụt dinh dưỡng trên nền đất cát kết nghèo mùn.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, phát hiện này tương đồng với thành công tại mỏ than Hunter Valley của Australia trong việc dùng phụ phẩm cải tạo đất mặt, đồng thời phù hợp với các thử nghiệm trồng tre Le chống xói mòn của các nhà khoa học trong nước tại mỏ than Vàng Danh và Hà Tu.

Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua hệ thống biểu đồ cột biểu diễn tỷ lệ sống sót của từng loài cây theo 4 công thức giá thể qua các mốc thời gian 3, 6, 9 và 12 tháng, kết hợp với bảng đối chiếu ma trận cơ lý hóa giữa các bãi thải nhằm làm nổi bật ưu thế vượt trội của giải pháp bổ sung phụ phẩm khoáng hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tái thiết kế hình học và san gạt hạ góc dốc bãi thải: Các đơn vị khai thác thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cần tổ chức thi công cắt tầng, hạ góc dốc sườn tầng bãi thải từ mức 30 - 35 độ hiện nay xuống dưới 25 độ, tạo bậc thềm phân tầng rộng từ 3 đến 5 mét trước khi bước vào mùa mưa bão hằng năm (giai đoạn từ tháng 2 đến tháng 4).
  • Ứng dụng mô hình liên kết thảm thực vật đa tầng: Ban Quản lý Môi trường mỏ Than Núi Béo cần tiến hành trồng đồng loạt cỏ Vetiver, cây Le và cây Chít theo đường đồng mức tại chân và sườn bãi thải với mật độ 6.600 khóm trên một hecta; đồng thời trồng xen kẽ Keo tai tượng, Keo lá tràm, Xoan và Ba bét Nam Bộ trên mặt bằng đỉnh bãi thải với mật độ 2.500 cây trên một hecta, hướng tới mục tiêu phủ xanh 100% diện tích bãi thải ngừng hoạt động trong thời gian 24 tháng.
  • Tận dụng phụ phẩm tro nhiệt điện và đất màu bóc tầng: Doanh nghiệp khai thác cần tận dụng nguồn tro xỉ nhiệt điện với tỷ lệ phối trộn 0,06% hoặc lưu giữ đất màu tầng phủ đệ tứ với tỷ lệ 10% kết hợp bón lót từ 100 đến 200 gam NPK trên mỗi hố trồng, giúp tăng khả năng giữ ẩm của đất thêm 15% đến 20% và tiết kiệm 30% chi phí mua đất mặt từ bên ngoài.
  • Thiết lập hệ thống quan trắc sinh thái định kỳ: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh phối hợp cùng các đơn vị mỏ triển khai trạm quan trắc tự động về xói lở đất đá và kiểm tra chất lượng nguồn nước suối Hà Tu với tần suất 6 tháng một lần, nhằm giám sát chặt chẽ lưu lượng bùn thải và đảm bảo an toàn môi trường sinh thái cho vịnh Hạ Long.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Kỹ sư môi trường và cán bộ kỹ thuật khai thác mỏ: Tiếp cận trực tiếp quy trình cải tạo nền đất đá bãi thải, thông số cơ lý hóa chi tiết và kỹ thuật thiết kế hàng rào sinh học chống sạt lở tại các khai trường than lộ thiên.
  • Cơ quan quản lý Nhà nước và nhà hoạch định chính sách tài nguyên môi trường: Sử dụng các số liệu thực chứng và quy chuẩn kiểm soát kim loại nặng làm căn cứ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, phê duyệt đề án đóng cửa mỏ và nghiệm thu công tác hoàn thổ.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Môi trường, Lâm nghiệp: Tham khảo phương pháp luận chuẩn xác về sinh thái thực nghiệm, quy trình lấy mẫu đất theo tiêu chuẩn quốc gia và kỹ thuật phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng, kim loại nặng bằng AAS, Kjeldahl, Tiurin.
  • Doanh nghiệp tư vấn cảnh quan và công nghệ phục hồi sinh thái: Ứng dụng công thức phối trộn giá thể từ tro nhiệt điện, tro rơm rạ và danh mục thực vật bản địa để triển khai các dự án gia cố mái dốc taluy công trình giao thông, thủy điện và khu công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao đất đá bãi thải than Chính Bắc lại có nguy cơ xói lở rất cao vào mùa mưa? Đất đá bãi thải tại đây chứa đến 66,2% là cuội sạn kết và cát kết bở rời, độ rỗng n đạt 21% nhưng lực dính kết nội tại chỉ đạt 2,0 tấn trên một mét vuông. Kết hợp với góc dốc sườn tầng lớn từ 30 đến 35 độ và lượng mưa năm tập trung khoảng 2.000 mm, dòng chảy mặt tạo xói mòn rãnh sâu cuốn trôi đất đá xuống hạ lưu.

Loài thực vật nào được đánh giá mang lại hiệu quả chống xói mòn sườn dốc tốt nhất? Cỏ Vetiver là loài thực vật ưu việt nhất nhờ bộ rễ chùm cắm sâu từ 3 đến 4 mét thẳng đứng trong lòng đất đá sau 2 năm sinh trưởng. Cỏ có dải chịu pH từ 3,3 đến 12,5 và chịu được biến động nhiệt độ từ âm 22 độ C đến 55 độ C, giúp giảm thiểu hơn 80% nguy cơ rửa trôi sườn dốc.

Hàm lượng kim loại nặng trong đất đá bãi thải than Núi Béo có gây độc hại cho cây trồng không? Không. Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng Chì đạt 34,5 mg/kg, Kẽm đạt 97 mg/kg, Asen đạt 3,81 mg/kg và Cadimi đạt 0,28 mg/kg, tất cả đều nằm trong ngưỡng an toàn cho phép của QCVN 03:2008/BTNMT đối với đất lâm nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho thảm thực vật phát triển.

Bổ sung tro xỉ nhiệt điện và đất màu vào hố trồng mang lại tác dụng sinh học gì? Việc phối trộn 0,06% tro nhiệt điện hoặc 10% đất màu kết hợp 100 gam NPK trên mỗi hố giúp bổ sung hạt mịn, lấp đầy khe rỗng của cát kết và tăng độ ẩm nền. Biện pháp này giúp tỷ lệ sống của cây thử nghiệm tăng từ 15% đến 22% so với trồng trực tiếp trên nền đất đá thô.

Thời điểm nào trong năm thích hợp nhất để triển khai trồng cây hoàn thổ bãi thải mỏ? Thời điểm tối ưu là đầu mùa mưa từ tháng 3 đến tháng 5 khi nhiệt độ trung bình khoảng 24 độ C đến 28 độ C và độ ẩm không khí đạt trên 80%. Điều kiện này giúp rễ cây con nhanh chóng bám rễ sâu vào đất đá trước khi các đợt mưa bão cường độ lớn xuất hiện vào tháng 7 và tháng 8.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện bản chất địa tầng bãi thải Chính Bắc với tỷ lệ cuội cát kết chiếm 66,2%, độ rỗng 21%, góc dốc sườn 30 - 35 độ và xác định hàm lượng kim loại nặng hoàn toàn đạt chuẩn QCVN 03:2008/BTNMT.
  • Tuyển chọn thành công 7 loài thực vật chống chịu cao bao gồm cỏ Vetiver, tre Le, cây Chít, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Xoan và Ba bét Nam Bộ phục vụ phục hồi bãi thải mỏ.
  • Chứng minh hiệu quả kỹ thuật của công thức bổ sung 10% đất màu và 0,06% tro nhiệt điện kết hợp bón lót NPK giúp nâng tỷ lệ sống của thảm thực vật lên trên 80% đến 92%.
  • Đề xuất giải pháp sinh học đa tầng kết hợp kỹ thuật cắt tầng hạ dốc giúp kiểm soát xói mòn, bảo vệ chất lượng nước suối Hà Tu và hồ Khe Cá.
  • Cung cấp mô hình hoàn thổ khoa học có tính ứng dụng cao cho toàn bộ vùng khai thác than Đông Bắc trong giai đoạn từ 3 đến 5 năm tới.

Đóng góp chính của luận văn là đã chuẩn hóa cơ sở khoa học và giải pháp thực nghiệm trồng cây phủ xanh bãi thải mỏ lộ thiên từ các loài cây bản địa kết hợp tái sử dụng phụ phẩm công nghiệp. Lộ trình tiếp theo cần mở rộng diện tích phủ xanh lên quy mô 50 đến 100 hecta tại các bãi thải kết thúc đổ thải. Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản cần chủ động ứng dụng quy trình công nghệ sinh học này vào kế hoạch đóng cửa mỏ để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn.