ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nha khoa phục hồi c nhiều loại hình điều trị để thay thế một răng cửa đã mất như implant, phục hình tháo lắp từng phần và phục hình cố định. Tuy nhiên, phục hình tháo lắp từng phần c thể gây tiêu xương và mất gai nướu sau một thời gian dài sử dụng, phục hình trên implant thì chi phí cao, đòi hỏi nhiều vấn đề về tình trạng sức khỏe toàn thân còn với phục hình cầu răng thông thường cần phải lấy đi một lượng cấu trúc răng đáng kể ở tất cả các mặt của răng trụ điều này c thể dẫn đến tổn hại tủy cũng như gây nhạy cảm ngà ở bệnh nhân tr [22]. Để giảm đi lượng mô răng mất đi khi sửa soạn phục hình, cầu răng cánh dán c thể được xem là một lựa chọn điều trị trong những trường hợp thay thế một răng cửa c thể tiết kiệm mô răng, bảo vệ mô vùng mất răng đạt yêu cầu xâm lấn tối thiểu mà vẫn đảm bảo chức năng, thẩm mỹ, bệnh nhân dễ dàng vệ sinh răng miệng cũng như sự sử dụng lâu dài trên lâm sàng. Cầu răng cánh dán cũng rất hữu ích trong những trường hợp bệnh nhân không thể phục hình trên implant do thiếu hổng mô xương, mô mềm, do điều kiện kinh tế hoặc bệnh nhân không muốn phẫu thuật.
Phục hồi một răng bị mất ở vùng răng trước là một trong những thách thức về thẩm mỹ, chức năng trong nha khoa phục hồi. Khoảng trống ở vùng răng trước dù nhỏ cũng c thể tạo ra những ảnh hưởng bất lợi về tâm lý nhất định cho bệnh nhân đặc biệt ở những người tr và bệnh nhân nữ. Ở những người tr buồng tủy lớn nên việc mài sửa soạn mất nhiều mô răng ngoài việc gây một sang chấn tâm lý còn c thể ảnh hưởng đến tủy răng trụ sau này. Vì vậy, việc chọn phục hình cầu răng cánh dán là một trong những lựa chọn điều trị ít xâm lấn, hiệu quả trong trường hợp mất một răng cửa vùng răng trước nh m phục hồi chức năng ăn nhai, thẩm mỹ và đem lại sự hài lòng cho bệnh nhân.
2 Trước đây, khi thực hiện cầu răng dán phần cánh dán thường b ng kim loại gây giảm độ trong mờ và tạo màu xám trên răng trụ đặc biệt vùng răng cửa gây mất thẩm mỹ mà một số bệnh nhân không chấp nhận được. Ngày nay với sự tiến bộ vượt bậc của vật liệu sứ và xi măng dán, cầu răng cánh dán toàn sứ đã đáp ứng đượcc các tiêu chí về phục hình ít xâm lấn mang tính thẩm mỹ, chức năng cũng như sử dụng lâu bền. Cho đến nay cầu răng cánh dán toàn sứ đã trở nên phổ biến hơn trong nha khoa phục hồi thẩm mỹ với việc xâm lấn tối thiểu nhưng những b ng chứng và nghiên cứu lâm sàng vẫn còn rất hạn chế trong y văn. Hiện tại ở Việt nam chưa c nghiên cứu cầu răng cánh dán toàn sứ nào chưa được thực hiện dù tính thẩm mỹ, chức năng, ít xâm lấn của loại phục hình này ngày càng được quan tâm và phổ biến.
Câu hỏi đặt ra là c hay không hiệu quả lâm sàng ở cầu răng cánh dán toàn sứ ? Do đ , chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Thực hiện cầu răng cánh dán toàn sứ trong phục hình xâm lấn tối thiểu – nghiên cứu báo cáo loạt ca lâm sàng ” với các mục tiêu như sau: Mục tiêu tổng quát: Đánh giá việc thực hiện cầu răng cánh dán sứ trong phục hình xâm lấn tối thiểu ở bệnh nhân c mất một răng vùng răng cửa tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019 - 2020. Mục tiêu cụ thể: 1. Đánh giá về mặt thẩm mỹ của cầu răng cánh dán sứ sau 1tháng, 3 tháng, 6 tháng 2. Đánh giá các yếu tố sinh học và cơ học của cầu răng cánh dán sứ sau 1tháng, 3 tháng, 6 tháng.
3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về phục hình cầu răng cánh dán kim loại Năm 1973, phục hình ở răng cửa mất được dán trực tiếp vào răng đã xoi mòn b ng nhựa tổng hợp trong một khoảng thời gian giới hạn để tạo thẩm mỹ. Sau đ cầu răng Rochette được thiết kế bởi Rochette để n p nha chu các răng trước hàm dưới. Tuy nhiên, do khung sườn cồng kềnh và chỉ dán giới hạn vào bề mặt men nên loại cầu răng này được sử dụng rất hạn chế [22]. Năm 1984, Moon và Hudgins phát triển „cầu răng Virginia‟ tại Đại học Virginia Commonwealth.
Kỹ thuật này được sử dụng để cung cấp cơ chế lưu giữ cơ học đại thể với khung sườn và bề mặt răng. Mặc dù được lưu giữ đầy đủ, nhưng khung sườn loại này vẫn cồng kềnh [22]. Năm 1983, Thompson và Livaditis đã phát minh k thuật xoi mòn điện ly đối với hợp kim Ni-Cr và Co-Cr và cầu răng Maryland được phát minh tại Đại học Maryland. Sự lưu giữ của cầu răng là xi măng nhựa dán h a học trực tiếp vào răng và hợp kim đã xoi mòn, tạo ra cơ chế lưu vi cơ học.
Tuy nhiên, hợp kim của cầu Maryland rất chuyên biệt và chỉ c thể sử dụng với hợp kim không quý vì hợp kim quý không thể xoi mòn và không tạo lớp oxýt kim loại để tạo vi lưu cơ học [22]. Trong lịch sử y học n i chung và nha khoa n i riêng rất kh kết hợp 2 vật liệu không tương thích lại với nhau. Do đ , việc cho hai vật liệu hòa hợp nhau giữa sứ và kim loại để tăng đặc tính tốt ban đầu của chúng là một thành công trong việc thực hiện phục hình cầu răng cánh dán kim loại. Cầu răng cánh dán kim loại [34] Nguồn: Rosenstiel Stephen F.
Land, Junhei Fujimoto,( 2015) “ Contemporary fixed prosthodontics” 5th edition Hình 1. Cầu răng cánh dán kim loại [34] Nguồn: Rosenstiel Stephen F. Land, Junhei Fujimoto,( 2015) “ Contemporary fixed prosthodontics” 5th edition .2 Tổng quan về cầu răng cánh dán toàn sứ 1. Đặc điểm Cầu răng cánh dán toàn sứ là loại cầu răng cố định b ng vật liệu sứ c phần giữ với hình dạng như chụp một phần và được gắn vào mặt trong răng trụ b ng xi măng gắn riêng biệt.
Cầu răng cánh dán toàn sứ được xem là phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu để thay thế cho một răng trước bị mất và mang lại kết quả lâm sàng cao, tỷ lệ tồn tại cao [21]. Ngoài ra, cầu răng cánh dán c nhiều lợi thế với sự chuẩn bị đơn giản, chi phí thấp, một lựa chọn điều trị phù hợp, không c nguy cơ kích thích tủy và không gây sâu răng; đặc biệt là lựa chọn thích hợp cho bệnh nhân tr c buồng tuỷ lớn [14]. Hơn nữa, những ca phục hình này đã chứng minh tỷ lệ tồn tại sau 15 năm là 73,9% ở phục hình hai cánh dán và 95,4% ở cầu răng c một cánh dán [38]. Cầu răng cánh dán sứ [34] Hình 1.
Cầu cánh dán toàn sứ răng 12 [ 34 ]. Cầu răng cánh dán toàn sứ 22 [34] 1. Chỉ định – Chống chỉ định [34] 1.1 Chỉ định - Thay thế các răng trước bị mất ở tr em và thanh thiếu niên - Bệnh nhân ít sâu răng và vệ sinh tốt - Mất một răng vùng răng trước. - Thân răng trụ nguyên v n, cao và chắc.
- Khớp cắn không c điểm chạm sớm và điểm vướng. - Bệnh nhân muốn mài răng ít.2 Chống chỉ định - Khoảng mất răng dài - Bệnh nhân c sâu răng nhiều. - Răng trụ nghiêng lệch. 7 - Thân răng ngắn, cắn sâu - Bệnh nhân c tật nghiến răng.
Ƣu và nhƣợc điểm 1.3 Ưu điểm [34] - Tiết kiệm mô răng. - Ít kích thích tủy và ảnh hưởng nướu răng. - Không đau, không cần gây tê. - Giảm thời gian điều trị.
- Thẩm mỹ cao.4 Nhược điểm[34] - Bong sút phục hình. - Dễ tích tụ mảng bám, cao răng và kh vệ sinh hơn so với cầu răng thông thường. - Chỉ định hạn chế.3 Tổng quan về các loại sứ nha khoa [8] Sứ là một trong những vật liệu lâu đời nhất mà con người biết đến; là vật liệu thẩm mỹ, bền c thể tái tạo chính xác cấu trúc răng bị mất. Trước khi c sứ, mão răng được làm hoàn toàn b ng vàng hoặc các hợp kim khác, khi nhu cầu về thẩm mỹ tăng lên, nhựa màu răng được sử dụng làm lớp phủ bên ngoài kim loại trong l nh vực nha khoa thẩm mỹ [8].
Khoảng đầu năm 1900, sứ được Charles Land đưa vào nha khoa; được gọi là mão sứ từng phần. Những mão răng này ban đầu này gặp rất nhiều vấn đề do kh chế tạo, không khít sát và c xu hướng dễ bị gãy, vì lý do này nên không được ưa chuộng [6]. Trước đây, kim loại phủ b ng nhựa hoặc composite màu răng để che giấu kim loại, lớp nhựa, composite này không tồn tại được lâu sẽ bị mòn lộ lớp kim. 8 loại bên trong ảnh hưởng nghiêm trọng đến thầm mỹ.
Ngoài ra, lớp nhựa này không sử dụng để che bề mặt nhai vì khả năng chống mài mòn kém. Đến cuối năm 1950 và đầu năm 1960, McLean tìm thấy sự liên kết kim loại với sứ qua lớp oxít bề mặt, phát hiện này dẫn đến kỷ nguyên mới phục hình sứ - kim loại [10]. Sứ kim loại [8] Mão sứ kim loại và phục hồi từng phần cố định được chấp nhận vì tính thẩm mỹ, khả năng chống mài mòn và độ bền cao. C thể sử dụng sứ để phủ bề mặt nhai và bờ viền b ng kim loại nên c độ chính xác cao.
Sứ kim loại vẫn còn phổ biến và chiếm một tỷ lệ lớn trong các phục hồi được thực hiện ngày nay (hình 1. Tuy nhiên, nghiên cứu về sứ vẫn tiếp tục vì có sự thành công của các phục hình kim loại - sứ nhưng lớp sườn kim loại bên dưới không cho phép ánh sáng đi qua và phản xạ tự nhiên như trong răng tự nhiên do đ , trong những điều kiện ánh sáng nhất định, mão sứ kim loại có màu tối và mờ đục (hình 1. Tính thẩm mỹ sẽ tốt hơn nếu phục hình c thể phản ánh màu sắc của ngà răng bên dưới. Tương tự như vậy, bờ phục hình bị tối đi, ngay cả khi đường hoàn tất dưới nướu.
9 Một số nhà sản xuất đã cố gắng giải quyết vấn đề này b ng cách thay thế b ng sứ bờ vai. Tuy nhiên, điều này vẫn không hoàn toàn giải quyết được vấn đề trong mờ.