CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Tư duy là một trong những lĩnh vực được nghiên cứu nhiều và rất sớm trong tâm lí học, vì vậy khó có thể trình bày hết các thành tựu khoa học ở trong và ngoài nước. Vì thế, chương này chỉ đề cập tới những nội dung cơ bản nhất. Một số hướng tiếp cận vấn đề tư duy trong tâm lí học Khi tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi có thể khái quát một số hướng tiếp cận chính sau: 1.
Tiếp cận liên tưởng và tiếp cận hành động tinh thần Đây là hai hướng tiếp cận cổ điển và là điển hình của hai trường phái triết học trái ngược nhau được du nhập vào lĩnh vực tư duy: triết học duy vật - duy cảm Anh và triết học duy lí Đức.11] - Tiếp cận liên tưởng vấn đề tư duy Tiếp cận liên tưởng theo trường phái tâm lí học Anh là nghiên cứu giải thích động thái của các quá trình tâm lí theo nguyên tắc kết hợp, liên tưởng các hình ảnh tri giác. Đại biểu là các nhà triết học, tâm lí học Anh: D.Trong phạm vi tâm lí học nói chung, những luận điểm cơ bản của hướng tiếp cận liên tưởng bao gồm: 1) Tâm lí (hiểu theo nghĩa là yếu tố ý thức) được cấu thành từ các cảm giác. Cảm giác là cái thứ nhất, là cái cơ sở, còn các cấu thành như biểu tượng, ý nghĩ, tình cảm. là cái thứ hai, xuất hiện nhờ liên tưởng các cảm giác; 2) Điều kiện để hình thành các liên 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tưởng là sự gần gũi của các quá trình tâm lí; 3)Các mối liên tưởng bị qui định bỏi sự linh hoạt của các thành phần dược liên tưởng và tần số nhắc lại của chúng trong kinh nghiệm.
Chuyển vào lĩnh vực tư duy, các nhà liên tưởng cho rằng tư duy là quá trình thay đổi tự do tập hợp các hình ảnh, là sự liên tưởng các biểu tượng. Tư duy luôn là tư duy hình ảnh [12, tr. Mối quan tâm chủ yếu của các nhà liên tưởng là tốc độ và mức độ liên kết các hình ảnh, các biểu tượng đã có, tức là quan tâm chủ yếu tới vấn đề tái tạo các mối liên tưởng, nên tư duy, theo hướng tiếp cận liên tưởng là tư duy tái tạo. Sau này, mặc dù có nhiều cố gắng để giải thích các hiện tượng tâm lí, ý thức theo chiều hướng khách quan, bằng cách gắn kết tâm lí học với sinh lí học (như dựa vào cơ chế phản xạ có điều kiện do P.Pavlov phát hiện để giải thích cơ sở sinh lí thần kinh của các mối liên tưởng tâm lí).
Nhưng về cơ bản, thuyết liên tưởng chưa thoát khỏi tư duy siêu hình, với đặc trưng là phương pháp quy nạp hình thức các sự kiện. Vì vậy, các nhà tâm lí học liên tưởng mới chỉ nêu ra nguyên tắc giải thích máy móc về tư duy mà chưa đề cập đến bản chất, cấu trúc, vai trò của tư duy trong hoạt động của con người. - Tiếp cận theo tinh thần thực nghiệm: Tiếp cận theo tinh thần thực nghiệm là đặc trưng của trường phái tâm lí học Wurzburg - một trường phái tâm lí học Đức, theo truyền thống triết học duy lí. Đại biểu là các nhà tâm lí học Đức: O.
Về tổng thể, trường phái Wurzburg đã cố gắng đặt ra và giải quyết hàng loạt vấn đề khác biệt về chất giữa tư duy với các quá trình tâm lí khác, vạch ra sự hạn chế của các nhà tâm lí học liên tưởng trong nghiên cứu tư duy. Tư tưởng chủ đạo của trường phái này là nghiên cứu động thái tư duy thông qua thực nghiệm giải các bài toán tư duy. Một trong những 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương pháp được họ sử dụng trong thực nghiệm là tự quan sát. Hầu hết các nghiệm thể tham gia thực nghiệm là các giáo sư và tiến sĩ của Viện triết học.
Họ có nhiệm vụ thường xuyên thông báo về diễn biến quá trình tư duy của mình khi giải quyết các bài toán tư duy. Bằng thực nghiệm, được coi là đầu tiên về tư duy, các nhà tâm lí học Wurzburg đã đi đến những kết luận về bản chất của tư duy. Theo họ, tư duy là hành động bên trong của chủ thể nhằm xem xét các mối quan hệ. Việc xem xét các mối quan hệ này diễn ra độc lập với việc tri giác các thành phần tham gia quan hệ, thành thử quá trình tư duy diễn ra không cần sự hỗ trợ của các biểu tượng cảm tính, rời rạc.
Hành động tư duy là công việc của "cái tôi", của chủ thể. Nó chịu ảnh hưởng của nhiệm vụ (bài toán tư duy). Nhiệm vụ định hướng cho hành động tư duy. Khi chủ thể nhận ra bài toán có nghĩa là đã biến các chỉ dẫn từ bên ngoài thành tự chỉ dẫn trong quá trình giải quyết nhiệm vụ.
Các công trình của O.Selz đã chỉ ra thực chất của tư duy là sự vận hành liên tục của các thao tác tư duy, tái tạo và sáng tạo để giải quyết bài toán tư duy như một nhiệm vụ chỉnh thể. Quá trình này diễn ra qua nhiều giai đoạn. Trong đó giai đoạn nhận thức đầu bài toán và cấu trúc lại nó , tạo ra tình huống có vấn đề cho tư duy là quan trọng nhất. Có thể nói, thực chất của quá trình giải quyết bài toán tư duy là quá trình cấu trúc lại bài toán đó.
Trong quá trình giải các bài toán, chủ thể phải thường xuyên phải sử dụng các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá v. Đánh giá tổng quát, hướng tiếp cận của các nhà tâm lí học Wurzburg đã có đóng góp to lớn cho khoa học nhận thức nói chung và tâm lí học về tư duy nói riêng. Lần đầu tiên, trong tâm lí học, tư duy được nghiên cứu như là một hành động bên trong,là một quá trình vận động của các thao tác trí tuệ. Nó có đối tượng là các quan hệ.
Đây là bước tiến lớn trên con đường tìm hiểu bản chất của tư duy và khắc phục các quan niệm giản đơn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của thuyết liên tưởng về vấn đề này. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của triết học duy lí Đức (từ I.Hegel), nên hành động tư duy, theo quan điểm phái Wurzburg, chỉ thuần tuý là hành động tinh thần bên trong. Nó không liên quan đến các yếu tố bên ngoài. Bài toán tư duy (hoàn cảnh có vấn đề) chỉ có tác dụng khởi động lúc đầu, còn sau đó, các thao tác tự vận động theo lôgic nội tại của chúng.
Nội dung khách quan của bài toán và các thao tác chỉ quan hệ về hình thức, còn thực chất chúng tách rời nhau. Nói cách khác, vấn đề quan hệ giữa chủ thể tư duy với các điều kiện bên ngoài của chính quá trình tư duy đã bị loại ra khỏi tầm nghiên cứu của các nhà tâm lí học Wurzburg, bản chất xã hội và logic tâm lí của tư duy vẫn chưa được giải quyết. Tiếp cận hành vi - Thuyết hành vi cổ điển: Tiếp cận hành vi là một trong những cố gắng rất lớn của tâm lí học thế giới đầu thế kỉ XX, nhằm khắc phục tính chủ quan trong nghiên cứu các hiện tượng tâm lí người thời đó. Kết quả là sự ra đời của một trường phái có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của tâm lí học Mỹ và thế giới ở thế kỉ XX.
Đại biểu của tâm lí học hành vi là các nhà tâm lí học kiệt xuất: J. Các nhà tâm lí học theo hướng tiếp cận hành vi cho rằng tâm lí học không thể nghiên cứu ý thức bằng phương pháp khách quan. Vì vậy, tâm lí học chỉ nghiên cứu hành vi con người mà thôi. Hành vi là tập hợp các phản ứng của cơ thể đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài.
Hành vi là những gì có thể quan sát được, còn ý thức thì không. Nhiệm vụ của nhà tâm lí học là mô tả và lượng hoá các hành vi đó, đúng như nó diễn ra trong tình huống xác định. Phương pháp của nhà tâm lí học là quan sát khách quan và thực nghiệm các phản ứng của cơ thể khi có tác nhân kích thích, nhằm mục đích xác định tương 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan giữa kích thích và phản ứng. Cơ sở sinh lí thần kinh được quan tâm trong các thực nghiệm là phản xạ có điều kiện.Watson lấy cơ chế phản xạ có điều kiện do I.Pavlov phát hiện làm cơ sở sinh lí thần kinh của các phản ứng tâm lí.
Chính Watson đã sử dụng cơ chế này để thực nghiệm hình thành các phản xạ ở trẻ em. Về sau, các thực nghiệm của E.LThorndike và đặc biệt là của B.Skinner đã thay đổi điều kiện hình thành phản xạ và tìm ra cơ chế mới, có phần khác so với cơ chế mà I.Pavlov phát hiện. Phản xạ có điều kiện theo cơ chế I.Pavlov là "phản xạ cổ điển", còn theo Skinner là "phản xạ tạo tác". Cơ chế hình thành các hành vi là sự mò mẫm của chủ thể, theo nguyên tắc "thử và sai", qua nhiều lần, cho tới khi xác lập được các phản ứng phù hợp, luyện tập và củng cố chúng.
Các nhà hành vi chủ nghĩa đề cao vai trò của kích thích bên ngoài trong việc tạo ra các phản ứng. Hành vi trí tuệ (của cả người và động vật) là các phản ứng có hiệu quả mà cá thể (chủ thể) học được, nhằm đáp lại các kích thích của môi trường sống. Vì vậy, nghiên cứu và điều khiển việc hình thành hành vi trí tuệ (cho cả người và động vật) được qui về việc nghiên cứu tạo ra "môi trường các kích thích", được sắp xếp theo lôgic cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức là quá trình "điều kiện hoá hành vi". Vấn đề học tập và kĩ xảo đạt được là trung tâm của tâm lí học hành vi.
Theo các nhà hành vi, tư duy giống như kĩ xảo, nó được hình thành theo cơ chế phản xạ và luyện tập chúng. - Các học thuyết hành vi mới: Sự phát triển tiếp theo của hướng tiếp cận hành vi sau J.Watson đã dẫn đến phân hoá trường phái tâm lí học này thành ba nhánh: Tâm lí học hành vi bảo thủ (Thuyết S-R) với đại diện là Skinner, trung thành với các luận điểm ban đầu (có tính cơ giới về hành vi trí tuệ con người) của J. Tuy nhiên quan niệm này buộc phải thay đổi do 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.