CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE VAN DE PHAT TRIEN NONG NGHIEP CONG NGHE CAO TREN BAO CHi DIA PHUONG 1. Hệ thống các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Nông nghiệp Theo cách hiểu phổ biến, nông nghiệp hiện đại đã vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật. Các sản phâm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt, chất đốt, da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học, lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp,.
Nghiên cứu về nông nghiệp đã có một số cách định nghĩa như sau: Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn định nghĩa: “Nông nghiệp là phân ngành trong hệ thong ngành kinh tế quốc dân, bao gom các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản” [9]. Theo cuốn Nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO thời cơ và thách thức có định nghĩa: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đảm bảo những nhu cầu thiết yếu nhất, cơ bản nhất của con người. Nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gom hai lĩnh vực trong trọt và chăn nuôi, theo nghĩa rộng bao gém 3 lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp” [42, tr. Các tác giả trong Nông nghiệp, nông dan, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam cho rằng “Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là sản xuất vật chất, sử dụng đất đai và sinh vật làm ra sản phẩm nông nghiệp.
Còn theo nghĩa rộng, đó là sản xuất-kinh doanh làm ra thực phẩm nông sản, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp, chế biến, marketing và phân phối thực phẩm nông sản” [8, tr. 12 Từ những nghiên cứu và khái niệm được đưa ra về nông nghiệp, chúng tôi đưa ra khái niệm về nông nghiệp như sau: Nông nghiệp là ngành sản xuất lớn, bao gém nhiều chuyên ngành: trông trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; là ngành sản xuất ra những sản phẩm nông sản phục vụ đời sống con người, bao gdm chăn nuôi, trong trot và sơ chế sau thu hoạch. Công nghệ và công nghệ cao 1. Công nghệ Khởi nguồn của”công nghệ” bắt đầu được hình thành khi loài người biết đến việc chuyên đồi các nguồn tài nguyên thiên nhiên thành các công cụ thô sơ.
Thời kỳ tiền sử khi con người bắt đầu biết cách làm ra ngọn lửa để giữ ấm và nấu thức ăn, hay phát minh ra bánh xe giúp con người trong việc đi lại,. đây đều được gọi là công nghệ do con người tạo ra. Sự phát triển gần đây của công nghệ bao gồm việc tạo ra máy in, điện thoại, internet đã giảm bot rào cản vật chất cũng như địa lý giúp con người tương tác thông tin với nhau một cách nhanh chóng trong môi trường toàn cầu. Hiện nay, chúng ta đã và đang chứng kiến sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra bước đột phá về công nghệ trên phạm vi toàn cầu, có tác động không nhỏ đến tất cả các lĩnh vuc, ké ca chinh tri của các quốc gia.
Công nghệ là thuật ngữ có nguồn gốc từ hai thuật ngữ trong tiếng Hy Lap là “Techne” và “Logos”. “Techne” là khả năng hoặc cách thức cần thiết để làm cái gì đó, “Logos” là kiến thức về một điều gì đó [30, tr. Thuật ngữ công nghệ “Technology” trong tiếng Anh có nghĩa là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, phương pháp tô chức, nhằm giải quyết một van dé, cải tến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Theo khoản 2, Điều 3 Luật KH & CN năm 2013: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, 13 phương tiện dùng dé biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” [35].
Theo khoản 2, Điều 2 Luật Chuyên giao công nghệ 2017: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” [36]. Như vậy, có thê hiểu Công nghệ là phương tiện kỹ thuật, là sự thể hiện vật chất hoá các tri thức để ứng dụng vào sản xuất hay công nghệ là tập hợp các cách thức có phương pháp và được sử dụng và quá trình sản xuất trong các ngành sản xuất. Công nghệ cao Thuật ngữ “công nghệ cao” (High Tech) hiện đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới không chỉ trong ngành nông nghiệp mà còn ở các ngành khoa học công nghệ khác. Theo Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD), “CNC là các công nghệ có tỷ lệ chỉ cho nghiên cứu và phát triển lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia, các sản phẩm và quy trình công nghệ được đổi mới nhanh chóng, có tác động mạnh mẽ đối với sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế trong nghiên cứu và phát triển, sản xuất và chiếm lĩnh thị trường trên quy mô thé giới" [5, tr.
Khoản 1, Điều 3 Luật CNC 2008 quy định: “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tinh năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai tro quan trong đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dich vụ hiện có” [51, tr. Theo Khoản 6, Điều 2 Luật Chuyén giao công nghệ 2017: “CNC là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai 14 frò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dich vụ hiện có” [36, tr. Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này nhưng nhìn chung, các quan điểm trên cơ bản xác định thuật ngữ công nghệ cao dùng để chỉ một công nghệ (technology) hay một kỹ thuật (technique) hiện đại, tiên tiễn được áp dụng vào quy trình sản xuất nham tạo ra sản phâm có năng suất, chất lượng cao, giá thành hạ. Nông nghiệp công nghệ cao Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam, tùy theo cách tiếp cận của từng nhà khoa học và nhà quản lý mà có những quan niệm khác nhau về nông nghiệp CNC.
Von Thunen (1986), “Nông nghiệp CNC là nên nông nghiệp hội tụ các thành tựu tiên tiễn nhất về công nghệ sinh học, hóa học, vật liệu, thông tin và tự động hóa trong một hệ thống nông nghiệp tập trung nhăm tạo ra một quy mô sản xuất và trình diễn công nghệ, có tác dụng quyết định đối với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp” [43, tr. Quan niệm phô biến tại Trung Quốc và Đài Loan: “Nông nghiệp CNC là nên nông nghiệp tập hop các tiễn bộ khoa học và công nghệ VỀ sinh học, hóa học, cơ khí, tự động hóa,. kết hợp với những kinh nghiệm truyền thống để tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm và quan trọng hơn cả là cho hiệu quả cao” [43, tr. Theo Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, “Nông nghiệp CNC là nên nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gom: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh té cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bén vững trên cơ sở canh tác hữu cơ” [52].
15 Theo Nguyễn Văn Bộ, “Nông nghiệp CNC là nên nông nghiệp mà ở đó các loại hình công nghệ cao (cơ giới hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới và công công nghệ sinh học) được ứng dụng tổng hợp, theo một quy trình khép kín, hoàn chỉnh nhằm khai thác hiệu quả nhất tài nguyên tự nhiên (đất, khí hậu) và tiém năng của giống dé đạt năng suất và chất lượng sản phẩm cao nhất một cách bên vững” [4, tr. Trong cuốn Nông nghiệp ứng dung CNC là yêu câu tất yếu dé hội nhập quốc tế, Phạm S định nghĩa “Nông nghiệp CNC là ứng dụng tổng hợp các loại công nghiệp mới phù hợp trong điều kiện không gian thời gian cụ thé với tiềm lực cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiễn đề đạt được năng suất toi ưu, chất lượng tot nhất, đảm bảo an toàn thực phẩm, giá thành hạ, tăng tính cạnh tranh, có hiệu quả kinh tế cao, trên cơ sở đảm bảo môi trường sinh thái bên vững” [31, tr. Như vậy có thé khang định nông nghiệp CNC là một nên nông nghiệp được ứng dụng kết hợp những công nghệ mới, tiên tiễn để sản xuất, còn gọi là CNC nhằm nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, thỏa mãn nhu cau ngày càng cao của xã hội và đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bên vững. Mục tiêu cuối cùng của phát triển nông nghiệp CNC là giải quyết mâu thuẫn giữa năng suất nông nghiệp thấp, sản phẩm chất lượng thấp, đầu tư công lao động nhiều, hiệu quả kinh tế thấp với việc áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ dé đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng 6n định với năng suất và sản lượng cao, hiệu quả và chất lượng cao.
Báo chí và bao chi địa phương 1. Báo chí Theo một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, báo chí là hiện tượng da nghĩa, gắn bó chặt chẽ với các thành tô của kiến trúc thượng tang; là một loại hình hoạt động chính trị - xã hội, với tính chất nghiệp vụ sáng tạo, có những tác động to lớn đối với xã hội loài người được thể hiện trên nhiều phương diện: kinh 16 tế, chính trị, văn hóa, lỗi song,. TS Ta Ngoc Tan, “bdo chi la hién twong da nghia, gan bó chặt chẽ với các thành tố của kiến trúc thượng tang, báo chí là một loại hình hoạt động chính trị - xã hội, với tính chat nghé nghiệp sáng tạo.