Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển ngành hàng Sơn tra Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4. Thực trạng phát triển ngành hàng Sơn tra tại các tỉnh Tây Bắc Việt Nam Chương 5. Định hướng và giải pháp phát triển ngành hàng Sơn tra tại các tỉnh Tây Bắc Việt Nam.
luan an 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Hiện nay, đã có những công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam liên quan đến vấn đề phát triển ngành hàng và hầu hết mới chỉ nghiên cứu chúng một cách riêng rẽ, tách biệt. Những nghiên cứu này chưa có cái nhìn toàn diện mang tính hệ thống về ngành hàng và phát triển ngành hàng, đặc biệt là phát triển ngành hàng Sơn tra tại Việt Nam. Phân tích ngành hàng thông qua việc nghiên cứu chuỗi giá trị của ngành hàng đó. Việc tiếp cận phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị trong những n m gần đây đã trở thành một xu thế của các nghiên cứu mang tính hệ thống.
Nghiên cứu chuỗi giá trị được vận dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, cách tiếp cận chuỗi giá trị để phân tích các ngành hàng nông sản càng trở nên quan trọng vì giúp nông dân tiếp cận thị trường tốt hơn. Dù đây không phải là phương pháp quá mới nhưng để làm được điều này không phải dễ dàng vì nó mang tính thị trường cao cho quy hoạch sản xuất phù hợp, vì vậy cách tiếp cận này luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các nhà nghiên cứu khi phân tích ngành hàng nhằm sản xuất sản phẩm theo yêu cầu thị trường về số lượng và chất lượng nhằm phát triển ngành hàng và đạt hiệu quả kinh tế cao. Các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc N m 2021, nghiên cứu "Regulatory effects of hawthorn polyphenols on hyperglycemic, inflammatory, insulin resistance responses, and alleviation of aortic injury in type 2 diabetic rats" của nhóm tác giả Suwen Liua, Jincheng Yu, Mengfan Fu, Xinfang Wang và Xuedong Chang đã chỉ rõ các công dụng kỳ diệu của sơn tra.
Chiết xuất polyphenol trong sơn tra có lợi cho bệnh nhân tiểu đường loại 2. Nhóm tác giả đã nghiên cứu tác động và cơ chế ức chế của Chiết xuất polyphenol trong sơn tra đối với kháng insulin, viêm và tổn thương động mạch chủ ở chuột, sử dụng metformin (MF) như một đối chứng tích cực. Bằng các phương pháp thí nghiệm thực tế, các phát hiện cho thấy Chiết xuất polyphenol trong sơn tra cũng có thể làm giảm tổn thương động mạch chủ bằng cách kích hoạt SIRT1 và điều chỉnh các con đường tín hiệu NF-κB và Wnt2 / β-catenin. Nhìn chung, kết quả của nghiên cứu này cho thấy sơn tra có thể được sử dụng như một thành phần thực phẩm chức n ng trong điều trị bổ trợ của bệnh nhân tiểu đường loại 2.
N m 2020, nhóm tác giả gồm: Amirhossein Nazhand, Massimo Lucarini, Alessandra Durazzo, Massimo Zaccardelli, Santo Cristarella, Selma B. Silva, Patrícia Severino, Eliana B. Souto và Antonello Santini đã có luan an 6 công trình nghiên cứu về cây sơn tra “Hawthorn (Crataegus spp.): An Updated Overview on Its Beneficial Properties”. Nghiên cứu đã chỉ ra rất nhiều công dụng hữu ích của cây sơn tra, đặc biệt là công dụng sử dụng làm dược liệu.
Trong đó các thành phần có trong sơn tra được phân tích kỹ lưỡng, chỉ ra cả công thức hóa học cũng như tác dụng của từng thành phần có trong quả sơn tra. [60] N n 2011, nhóm tác giả HAN Junyan1, TAN Dehong, và LIU Guangchun trong nghiên cứu “Hawthorn—A Health Food” đã tiến hành phân tích các tính chất hóa học và giá trị y học của sơn tra. Nghiên cứu cho thấy sơn tra được trồng ở nhiều nơi trên thế giới và được coi là cây thuốc quý ở nhiều nước. Quả sơn tra thường được dùng để chữa bệnh còi, táo bón và rối loạn tiêu hóa, hoa và lá sơn tra thường được sử dụng để chống lại các rối loạn tim nhẹ.
Nghiên cứu cũng cho thấy chiết xuất từ quả, hoa và lá cây sơn tra có các đặc tính dược lý liên quan đến các hợp chất phenol và flavonoid… [65]. N m 1994, phương pháp tiếp cận “filière” đối với phân tích ngành hàng do Fabre P. đưa ra trong bài viết “Note de methodologie generale sur l'analyse de filiere pour” l'analyse economique des politiques. FAO (1994) đã kết hợp lý thuyết chuỗi giá trị vào phân tích ngành hàng.
Theo Fabre: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng” [69]. Như vậy, cách tiếp cận ngành hàng đã làm rõ sự kế tiếp của các hành động xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ yêu cầu của người tiêu thụ. Nói cách khác, ngành hàng là tập hợp những tác nhân (hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất, gia công, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên thị trường. Trong thực tế, có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về chuỗi giá trị.
Nếu tiếp cận theo chuỗi giá trị của sản phẩm do một doanh nghiệp tạo ra theo quan điểm của M. Theo Kaplinsky và Morris (2000) thì chuỗi giá trị của một sản phẩm là hàng loạt những hoạt động cần thiết để tạo ra một sản phẩm hoặc một dịch vụ bắt đầu từ việc hình thành ý tưởng, thông qua những giai đoạn sản xuất khác nhau cho tới khâu phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng. [66] Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu và cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị khác nhau và theo Kaplinsky và Morris (2000) thì không có cách tiếp cận nào là luan an 7 “chuẩn nhất”. Về cơ bản, phương pháp phân tích cụ thể phụ thuộc vào câu hỏi nghiên cứu và đặc điểm của sản phẩm nghiên cứu.
Điều này là do chuỗi giá trị hiện nay có thể rất phức tạp, đặc biệt là với nhiều mắt xích trung gian. Một hộ sản xuất nông nghiệp (hay một doanh nghiệp) có thể tham gia vào nhiều chuỗi giá trị khác nhau. Trong khi tiếp cận của UNIDO và USAID tập trung nhiều vào mục tiêu phân tích chuỗi giá trị thì tiếp cận của Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ) lại chú trọng vào phương pháp thực hiện. Để hỗ trợ phân tích chuỗi giá trị trên thực tế một cách hiệu quả và nhất quán, GTZ đi theo phương pháp luận Liên kết giá trị (ValueLinks).
Tiếp cận của GTZ hướng về thực hành, trong đó phân chia phân tích chuỗi giá trị thành các module bao gồm các nguyên tắc và tiêu chuẩn lựa chọn công cụ phân tích. Các module này không phải là các nhiệm vụ cố định, mà chỉ là các tiêu chuẩn, nguyên tắc, còn việc thực hiện thực tế lại rất linh hoạt. Phân tích Liên kết giá trị sẽ thu thập và phân tích thông tin sao cho có đủ cơ sở cần thiết để thực hiện các hành động can thiệp vào chuỗi giá trị, đảm bảo hiệu quả can thiệp. Ngoài ra, có thể kể đến một số nghiên cứu nước ngoài về tiếp cận chuỗi giá trị như: “Cẩm nang nghiên cứu chuỗi giá trị”, Raphael Kaplinsky & Mike Morris, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2006.
Cuốn cẩm nang đưa ra các khái niệm cơ bản và liên quan của chuỗi giá trị; xác định các vấn đề nghiên cứu mở rộng cho chuỗi giá trị; giới thiệu cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chuỗi; chỉ dẫn các chính sách liên quan đến định hướng, đầu tư phát triển chuỗi. “Cẩm nang ValueLinks, phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị” của tổ chức GTZ Eschborn, 2007. Cuốn cẩm nang trình bày dưới dạng các modunle riêng biệt, trong đó mỗi module có nhiệm vụ cụ thể, lần lượt các module sẽ giới thiệu tuần tự từng bước tiếp cận chuỗi; xác định vấn đề nghiên cứu cho chuỗi; tiến hành khảo sát chuỗi cụ thể, quyết định phát triển chuỗi như nào! hoặc cần phải nâng cấp thành phần nào trong chuỗi…[63]. GTZ, 2009,“Phát triển chuỗi giá trị, công cụ gia tăng giá trị cho sản xuất nông nghiệp”.
Cuốn sách là tư liệu quý chỉ dẫn trong điều kiện cụ thể để triển khai các chuỗi giá trị hàng hoá. Dựa trên phân tích các thiếu sót mà các tác nhân trong chuỗi không thể tự giải quyết. Bên cạnh đó cuốn tài liệu này còn giới thiệu một số trường hợp điển hình áp dụng cho phát triển, hoặc cho nâng cấp chuỗi giá trị ngành hàng tại một số địa phương của Việt Nam. [64] FAO, (2007), “Agro-industrial supply chain management: concepts and applications”.Tổ chức chỉ ra chuỗi cung ứng cho nông nghiệp, bao gồm các yếu luan an 8 tố đầu vào cần thiết cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đồng thời cho biết cách tiếp cận của chuỗi cung ứng đi từ khái niệm đến thực tiễn ứng dụng.
Tuy nhiên, chuỗi cung ứng rất rộng lớn, hàm chứa cả chuỗi giá trị bên trong nó và việc xác định chuỗi giá trị cho nông nghiệp chỉ mang tính chung chung. [61] GTZ, ValueLinks Manual, The Methodology of Value Chain Promotion.“Making value chains work better for the poor. A toolbook for practitioners of value chain analysis 3rd version”. Making markets work better for the poor (M4P) Project, UK Department for International Development (DFID), Agricultural Development International, Phnom Penh, Cambodia.
Họ nghiên cứu chuỗi giá trị dành cho người nghèo ở Cam-pu-chia. Chuỗi giá trị này nhằm mục tiêu gia t ng thu nhập cho người dân nghèo Campuchia bằng cách tìm ra giá trị gia t ng trong mỗi mắt xích của chuỗi, sự tham gia của chính phủ, các cơ quan ban ngành trong ngành nông nghiệp, các chính sách đổi mới nhằm củng cố vị thế cho người nghèo. [67] - Anic và Nusinovic (2005), trong nghiên cứu chuỗi giá trị táo ở Croatia, phương pháp phân tích SWOT cũng như áp dụng các phương pháp của FAO, lý thuyết quản lý chuỗi cung ứng SCM (Supply Chain Management) được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy chuỗi giá trị táo ở Croatia đã không hiệu quả, đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến táo và cơ sở hạ tầng có thể làm t ng giá trị gia t ng, khả thi chỉ khi công nghệ và thiết bị tiên tiến được sử dụng và các sản phẩm có giá trị cao được sản xuất. [68] - Barry (2006), thực hiện nghiên cứu chuỗi giá trị của chôm chôm ở SriLanka; lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky and Morris (2000) được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị gia t ng thấp và chủ yếu được tạo ra thông qua giao thông.