Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân địa lý của tác giả Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004, dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Văn Thanh) được thực hiện trong bối cảnh quá trình phát triển kinh tế – xã hội và đô thị hóa tại Việt Nam nói chung, thành phố Nha Trang nói riêng đang tạo ra những sức ép nặng nề lên môi trường tự nhiên. Sự khai thác tài nguyên quá mức và các hoạt động kinh tế chưa gắn kết đồng bộ với bảo vệ môi trường đã dẫn tới tình trạng suy thoái, ô nhiễm nguồn nước, đất đai và suy giảm đa dạng sinh học. Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu đặt vấn đề cần đánh giá tổng hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội theo quan điểm sinh thái nhằm tìm ra giải pháp quy hoạch không gian và quản lý môi trường phát triển bền vững cho thành phố.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm ba nội dung chính:

  1. Tiếp cận lý thuyết hệ sinh thái kinh tế – xã hội để đánh giá tổng hợp các tiềm năng sinh thái, kinh tế và xã hội của thành phố Nha Trang.
  2. Phân tích cấu trúc, chức năng, sự phân hóa không gian lãnh thổ và đánh giá mức độ cân bằng của hệ thống sinh thái kinh tế – xã hội trên địa bàn.
  3. Đề xuất định hướng quy hoạch không gian, quản lý kỹ thuật hạ tầng và dự báo xu thế phát triển bền vững của hệ thống sinh thái kinh tế – xã hội thành phố Nha Trang giai đoạn 2005 – 2010.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống sinh thái kinh tế – xã hội thành phố Nha Trang.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ ranh giới hành chính của thành phố Nha Trang với tổng diện tích tự nhiên là 250,692 km² (văn bản cũng ghi nhận số liệu diện tích 238 km² ở phần tự nhiên), bao gồm 19 phường nội thành và 8 xã ngoại thành; tọa độ địa lý từ 12°8'33" đến 12°25'18" vĩ độ Bắc và 109°6'16" đến 109°14'30" kinh độ Đông.
  • Phạm vi thời gian: Nguồn tư liệu, số liệu thống kê thu thập từ năm 1992 đến năm 2003; định hướng quy hoạch và dự báo phát triển đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận địa lý tổng hợp, sinh thái cảnh quan và kinh tế sinh thái học:

  • Khung lý thuyết:
    • Lý thuyết hệ sinh thái kinh tế – xã hội: Vận dụng định nghĩa và luận điểm của Nguyễn Đắc Hy về hệ sinh thái kinh tế và hệ sinh thái kinh tế – xã hội đô thị; các quan điểm nền tảng của GS. Davigneaud, Tanghe, Odum, Pvehrlichetal, M. Sargent, I.P. Gerasimov, Herman Daly, John Cobb (chỉ số phúc lợi kinh tế bền vững ISEW) và Howard T. Odum (đơn vị năng lượng emergy).
    • Lý thuyết hệ sinh thái kinh tế – xã hội nông thôn: Mô hình cấu trúc chức năng của Trần Văn Thanh (1992) và Đào Thế Tuấn về hệ sinh thái nông nghiệp.
    • Quan điểm địa sinh thái và phát triển bền vững: Xem xét lãnh thổ như một địa hệ phức hợp có sự trao đổi dòng vật chất, năng lượng và thông tin theo chu trình sinh – địa – hóa kín giữa tự nhiên và hoạt động kinh tế nhân sinh.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp tổng hợp, đánh giá, so sánh kết hợp thống kê số liệu kinh tế quốc dân: Xử lý chuỗi số liệu về dân số, lao động, giá trị sản xuất các ngành nông – lâm – thủy sản, công nghiệp, dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật đô thị.
    • Phương pháp bản đồ: Chồng xếp các bản đồ đơn tính (địa hình, thổ nhưỡng, thủy văn) và bản đồ tổng hợp ở tỷ lệ 1/100.000 và 1/25.000 để xác định các đơn vị sinh thái kinh tế – xã hội đồng nhất và ranh giới phân vùng.
    • Phương pháp mô phỏng hệ thống: Trừu tượng hóa cấu trúc hệ thống thành 5 phân hệ chức năng: hệ cung cấp, hệ sản xuất, hệ đồng hóa, hệ tích lũy, hệ đào thải và hệ hô hấp.
    • Phương pháp thực địa: Khảo sát hiện trạng cảnh quan, các cơ sở sản xuất, khu dân cư, điểm xả thải và môi trường ven biển tại địa phương.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu chính thức từ Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang, Công an thành phố Nha Trang, Viện Hải dương học, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Niên giám Thống kê tỉnh Khánh Hòa và thành phố Nha Trang giai đoạn 1995 – 2002/2003.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Mục đích, yêu cầu, nội dung chủ yếu, giới hạn đề tài, lịch sử nghiên cứu

Chương này xác lập tính cấp thiết của đề tài và tổng quan lịch sử nghiên cứu sinh thái kinh tế trên thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới, tác giả điểm qua các trường phái nghiên cứu sinh thái tự nhiên, sinh thái con người và sinh thái kinh tế của Davigneaud, Odum, Gerasimov, Zucchetto, Herman Daly, Howard Odum. Tại Việt Nam, hướng nghiên cứu sinh thái kinh tế được kế thừa từ các công trình nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp của Đào Thế Tuấn, quy hoạch sử dụng đất đồng bằng sông Cửu Long (Chương trình 60B của Trần An Phong), nghiên cứu hệ sinh thái kinh tế Hà Nội của Nguyễn Đắc Hy và nghiên cứu hệ thống kinh tế sinh thái xã hội huyện Tân Hồng (1992) của Trần Văn Thanh. Tác giả xác định phạm vi nghiên cứu cụ thể của đề tài là 19 phường và 8 xã của thành phố Nha Trang.

Chương II: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Chương II trình bày cơ sở lý luận về hệ sinh thái kinh tế – xã hội. Tác giả phân tích 5 thuộc tính cơ bản của hệ thống: tính biện chứng, tính tương tác, tính hệ quả, tính hệ thống và tính chức năng. Về phân loại, hệ sinh thái kinh tế – xã hội được chia thành:

  • Hệ sinh thái kinh tế – xã hội đô thị: Bao gồm các phân hệ sản xuất vật chất (công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp, xây dựng cơ bản) và phân hệ phi sản xuất vật chất (y tế, giáo dục).
  • Hệ sinh thái kinh tế – xã hội nông thôn: Cấu trúc gồm hệ môi trường và hệ kinh tế – xã hội (phân hệ trồng trọt, chăn nuôi, quần cư, lâm – ngư nghiệp, phi nông nghiệp) vận hành qua 5 khối chức năng (hô hấp, cung cấp, tích lũy, đồng hóa, đào thải).

Chương này cũng xác lập quy trình nghiên cứu gồm: kiểm kê đánh giá hiện trạng, xây dựng mô hình điều khiển quản lý và kết hợp 4 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành (thống kê tổng hợp, bản đồ chồng xếp, mô phỏng hệ thống và thực địa).

Chương III: Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội để phát triển sinh thái kinh tế xã hội

Chương III phân tích toàn diện các yếu tố nền tảng tự nhiên và nhân văn của thành phố Nha Trang:

  • Điều kiện tự nhiên: Địa hình đặc trưng thung lũng trước núi và ven biển, phía Bắc và Nam giới hạn bởi hai dãy núi cao 700 – 900 m, phía Tây có các dãy núi cao trên 1000 m (núi Sông Lô, núi Chụt), dải bờ biển dài 7 km hình lưỡi liềm và 19 đảo ven bờ (lớn nhất là Hòn Tre, Hòn Yến). Khí hậu điều hòa, nhiệt độ trung bình trên 27°C (năm 2002), tháng nóng nhất trên 30,3°C, tháng lạnh nhất khoảng 24°C, lượng mưa trung bình 1.500 mm, độ ẩm 78%, không khí giàu ion I, Br, Cl. Thủy văn có sông Cái dài 79 km bắt nguồn từ Hòn Gia Lê (1.812 m) với 7 phụ lưu dốc ngắn dưới 20 km; độ mặn nước biển đạt 34‰. Tài nguyên khoáng sản có than bùn ở Ngã Ba Thành (thân quặng dài 5 km, rộng 2 – 3 km), quặng vàng ở Đá Bàn và đèo Rọ Rỳ (hàm lượng 120 – 130 g/t), fluorit ở Hòn Sầm, cát thủy tinh, kaolin. Sinh vật biển phong phú với 350 loài san hô, 250 loài cá, 122 loài giáp xác, 27 loài da gai, 112 loài nhuyễn thể, 69 loài rong biển, đặc sản trầm hương, kỳ nam và yến sào.
  • Điều kiện kinh tế – xã hội: Dân số năm 2002 là 349.994 người (hoặc 349.396 người tùy bảng thống kê thời điểm), tỷ lệ gia tăng tự nhiên 1,12%/năm, mật độ trung bình 1.396 người/km² (phường Phước Tiến cao nhất với 41.567 người/km², xã Phước Đồng thấp nhất với 214 người/km²). Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động đạt 54,6%. Mật độ di tích lịch sử – văn hóa đạt mức cao (2 di tích/100 km²), tiêu biểu gồm Tháp Bà Pônagar, chùa Long Sơn (tượng Phật cao 21 m), nhà thờ Đá, Viện Pasteur, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu bảo tồn biển Hòn Mun.

Chương IV: Hiện trạng, đánh giá cân bằng và dự báo sự phát triển của hệ sinh thái kinh tế xã hội

Chương này đánh giá chi tiết thực trạng các ngành kinh tế, hạ tầng và các vấn đề môi trường nảy sinh:

  • Hiện trạng kinh tế:
    • Công nghiệp: Tập trung ở 5 cụm chính (Đồng Đế – Đông Bắc, Bình Tân, Hòn Khói/Hòn Khô, Tây Nam và Hòn Rớ, Hòn Rớ). Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm 2003 vượt 10% kế hoạch; khu vực ngoài quốc doanh đạt 148,7 tỷ đồng; có 200 cơ sở mới thành lập với số vốn trên 80 tỷ đồng.
    • Nông nghiệp: Giá trị sản xuất năm 2002 đạt 77,873 tỷ đồng. Trồng trọt chiếm 53,9% (41,877 tỷ đồng), diện tích gieo trồng lúa đạt 2.352 ha, sản lượng 11.671 tấn (tập trung ở Vĩnh Thái, Vĩnh Phương); mía 201 ha (nhiều nhất ở Vĩnh Lương 142 ha); rau 480 ha, sản lượng 6.445 tấn. Chăn nuôi chiếm 46,1% (35,996 tỷ đồng) gồm 365 con trâu, 943 con bò, 14.853 con lợn, 14 con ngựa, 345 con dê.
    • Lâm nghiệp: Giá trị sản xuất năm 2002 đạt 2,272 tỷ đồng; giao đất trồng mới 2,51 ha tại Vĩnh Ngọc theo chương trình 743; trồng lại 70 ha rừng chết theo chương trình PAM; chăm sóc 113,3 ha.
    • Thủy sản: Giá trị sản xuất đạt 288,147 tỷ đồng (khai thác chiếm 68,8% với 198,137 tỷ đồng, trong đó cá chiếm 116,730 tỷ đồng; nuôi trồng đạt 90,010 tỷ đồng). Sản lượng khai thác năm 2003 đạt 20.500 tấn; sản lượng tôm thịt 500 tấn, tôm giống 700 triệu con.
    • Dịch vụ – Du lịch: Năm 2003 thu hút 620.000 lượt khách (155.000 khách quốc tế), doanh thu đạt 310 tỷ đồng.
  • Hiện trạng dân số và lao động:
Chỉ tiêu phân theo ngành Tỷ lệ cơ cấu (%) Số lượng lao động (người)
Nông – lâm – ngư nghiệp 15,76% 21.345
Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng 37,49% 50.777
Dịch vụ – Du lịch – Hành chính 46,75% 63.318
Tổng lao động nội thị trong tuổi lao động 100% 189.966 (nội thành: 105.241)
  • Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật và xã hội:
    • Giáo dục: 68 trường phổ thông, 67.867 học sinh năm học 2003 – 2004; 9/27 xã phường đạt chuẩn phổ cập THCS.
    • Y tế: 4 bệnh viện, 5 phòng khám khu vực/nhà hộ sinh, 26 trạm y tế, 893 giường bệnh, 1.007 cán bộ y tế. Năm 2002 ghi nhận 670 ca nhiễm HIV và 294 ca tử vong do AIDS.
    • An ninh – trật tự: Năm 2003 xảy ra 381 vụ tội phạm hình sự; 50 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 67 người; phá 86 vụ ma túy bắt 222 đối tượng.
    • Cơ sở hạ tầng: Giao thông đường bộ đối ngoại nâng cấp đường 23/10 và đường 30/4 kết nối Quốc lộ 1; đường sắt có ga Nha Trang là ga cụt nằm giữa nội đô gây xung đột giao thông khi mở rộng đường sắt Liên Á; sân bay Nha Trang nằm trung tâm đô thị cần nâng cấp; tỷ lệ đất giao thông nội thị rất thấp (7,4% đất xây dựng).
  • Môi trường và cân bằng sinh thái: Ghi nhận hiện tượng ô nhiễm nước ven bờ khu dân cư, khu vực lân cận đìa 3/2, ô nhiễm nước giếng ngầm, ô nhiễm không khí và biến đổi địa hình do xây dựng, san ủi đồi núi.

Chương V: Định hướng quy hoạch sinh thái kinh tế xã hội thành phố Nha Trang (2005 – 2010)

Chương V đề xuất các giải pháp tổ chức không gian và hạ tầng kỹ thuật cụ thể:

  • Cơ sở quy hoạch: Dựa trên dự báo quy mô dân số, cơ cấu lao động và nhu cầu sử dụng đất đô thị đến năm 2010.
  • Quy hoạch không gian đô thị: Đề xuất phương án chọn đất mở rộng không gian thành phố về phía Tây và phía Nam (khu Bình Tân, Hòn Rớ, Phước Đồng); phân định rõ các khu chức năng đô thị, trung tâm công cộng, dải cây xanh cảnh quan và các vùng sinh thái nông thôn ngoại thành.
  • Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật:
    • Cải tạo mạng lưới thoát nước mưa, tách riêng hệ thống thoát nước bẩn và nước mặt.
    • Mở rộng mạng lưới cấp nước sạch đô thị và kiểm soát chất lượng nước giếng sinh hoạt.
    • Nâng cấp quy trình thu gom, vận chuyển, xử lý và đổ bỏ chất thải rắn đô thị.
    • Cải tạo mạng lưới điện chiếu sáng và cấp điện công nghiệp.
    • Điều chỉnh giao thông: Đề xuất phương án di dời hoặc đưa ga đường sắt Nha Trang ra ngoài trung tâm đô thị để giải quyết giao cắt và đáp ứng tuyến đường sắt Liên Á; nâng cấp sân bay Nha Trang đạt tiêu chuẩn quốc tế; mở rộng quỹ đất giao thông nội thị vượt mức 7,4%.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính:
    • Tổng hợp và hệ thống hóa bức tranh hiện trạng kinh tế – xã hội của thành phố Nha Trang đến năm 2002 – 2003: dân số 349.994 người; lao động dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất (46,75%); sản lượng khai thác thủy sản đạt 20.500 tấn/năm; du lịch đạt 620.000 lượt khách với 310 tỷ đồng doanh thu.
    • Xác định các bất cập hạ tầng kỹ thuật: diện tích đất dành cho giao thông nội thị chỉ đạt 7,4%; ga đường sắt nằm trong nội đô gây ách tắc; nguy cơ ô nhiễm nguồn nước biển ven bờ và nước ngầm tại các khu dân cư đông đúc (như phường Phước Tiến với mật độ 41.567 người/km²).
    • Đưa ra bảng hệ thống chỉ tiêu dự báo phát triển, phân bố dân cư, cơ cấu sử dụng đất và danh mục các dự án kinh tế sinh thái đến năm 2010.
  • Giải pháp và kiến nghị:
    • Quy hoạch mở rộng không gian đô thị gắn liền với bảo vệ cảnh quan bờ biển 7 km và hệ thống 19 đảo ven bờ.
    • Di dời/cải tạo ga xe lửa Nha Trang để phục vụ kết nối đường sắt Liên Á và giảm ùn tắc nội đô; nâng cấp sân bay Nha Trang.
    • Xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải độc lập và kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang nuôi tôm tự phát.
  • Đóng góp của nghiên cứu: Vận dụng lý thuyết hệ thống sinh thái kinh tế – xã hội vào quy mô một thành phố đô thị loại hai ven biển, kết hợp phân tích đa ngành giữa địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế và sinh thái cảnh quan để xây dựng định hướng quy hoạch đô thị bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả tự nhìn nhận nguồn tài liệu, số liệu thu thập từ các cơ quan ban ngành tại địa phương còn chưa thực sự đầy đủ, toàn diện do giới hạn về kinh phí, thời gian và phương tiện điều tra thực địa của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu định lượng các dòng vật chất – năng lượng trong từng tiểu vùng sinh thái biển đảo; ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS để cập nhật biến động sử dụng đất chi tiết sau năm 2010; xây dựng mô hình quy hoạch không gian dài hạn đến năm 2020.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa lý học (Địa lý tự nhiên, Địa lý kinh tế – xã hội), Quy hoạch đô thị và nông thôn, Quản lý môi trường và Kinh tế tài nguyên.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý đô thị quan tâm đến phương pháp tiếp cận địa sinh thái trong quy hoạch đô thị ven biển miền Trung.
  • Tham khảo cụ thể chuỗi số liệu thống kê lịch sử giai đoạn 1992 – 2003 về dân số, lao động, hạ tầng, nông – lâm – thủy sản và hệ thống cụm công nghiệp thành phố Nha Trang.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu lao động nội thị của thành phố Nha Trang năm 2002 được phân bổ như thế nào? Theo Bảng 3 trong khóa luận, cơ cấu lao động nội thị gồm: ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp chiếm 15,76% (21.345 người); ngành Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng chiếm 37,49% (50.777 người); ngành Dịch vụ – Du lịch – Hành chính chiếm tỷ trọng cao nhất với 46,75% (63.318 người).

2. Thành phố Nha Trang có bao nhiêu cụm công nghiệp chính và gồm những khu vực nào? Khóa luận liệt kê 5 cụm công nghiệp chính: (1) Cụm công nghiệp Đồng Đế – Đông Bắc; (2) Cụm công nghiệp Bình Tân; (3) Cụm công nghiệp Hòn Khói/Hòn Khô; (4) Cụm công nghiệp Tây Nam và Hòn Rớ; (5) Cụm công nghiệp Hòn Rớ.

3. Tại sao tác giả đề xuất cần điều chỉnh, quy hoạch lại ga đường sắt Nha Trang? Khóa luận chỉ ra hai lý do chính: thứ nhất, thành phố đang phát triển về phía Tây, sự tồn tại của ga trung tâm làm gia tăng các điểm giao cắt xung đột giữa đường sắt và đường bộ đô thị; thứ hai, ga Nha Trang là ga cụt và không còn quỹ đất nội đô để mở rộng quy mô khi tuyến đường sắt Thống Nhất hòa mạng vào tuyến đường sắt Liên Á.

4. Mật độ dân số tại các khu vực của thành phố Nha Trang năm 2002 có sự chênh lệch như thế nào? Mật độ dân số trung bình toàn thành phố là 1.396 người/km². Nơi tập trung đông dân nhất là phường Phước Tiến đạt 41.567 người/km²; nơi thưa dân nhất là xã Phước Đồng chỉ đạt 214 người/km².

5. Hoạt động du lịch của thành phố Nha Trang năm 2003 đạt các chỉ tiêu cụ thể nào? Năm 2003, Nha Trang đón ước tính khoảng 620.000 lượt khách du lịch (tăng 6% so với năm trước), trong đó khách quốc tế đạt 155.000 lượt; tổng doanh thu du lịch đạt 310 tỷ đồng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền đã vận dụng lý luận hệ sinh thái kinh tế – xã hội để phân tích thực trạng tự nhiên, nhân văn và hạ tầng của thành phố Nha Trang giai đoạn 1992 – 2003. Công trình chỉ rõ những bất cập giữa phát triển kinh tế với suy thoái môi trường ven biển và áp lực hạ tầng đô thị. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng định hướng quy hoạch không gian, xử lý môi trường và cải tạo kỹ thuật hạ tầng cho thành phố giai đoạn 2005 – 2010 theo định hướng phát triển bền vững.