CHƯƠNG I: MỤC DICH, YEU CAU, NOI DUNG CHU YEU, GIGI HAN DE TAI, LICH SU NGHIEN CUU CHUONG II: PHƯƠNG PHAP LUẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thường “Dai hoe ut phom Tp. Xi Chi Minh SOTA: Hauyda Trink Heer Yiám Khod luận tất “giiệp cứ máuân dia li Thdy batting đâu: Tha, Trin Oan Thanh tt CHUONG L MUC DICH, YEU CAU, NOI DUNG CHU YEU, GIGI HAN DE TAI, LICH SỬ NGHIÊN CỨU 1. MỤC DICH - YÊU CẦU. Với dé tài này, tôi đã tiếp cận lý thuyết về hệ sinh thái kinh tế - xã hội.
từ đó áp dụng vào việc: - Đánh giá tổng hợp những tiểm năng sinh thái — kinh tế — xã hội của thành phố Nha Trang. - Trên cơ sở đó nghiên cứu cấu trúc, chức năng, phân chia cấu trúc không gian và đánh giả, định hướng quy hoạch, quản lý và xu thế phát triển của hệ sinh thai — kinh tế- xã hội của thành phố Nha Trang. Đồng thời, việc nghiên cứu cũng giúp tôi nắng cao nhận thức về địa lý học hiện đại và ý thức bảo vệ môi trường sống. CẤU TRÚC KHÓA LUẬN.
Khoá luận gồm 2 phan lớn: + Phần tổng quan: gồm 2 chương. + Phần kết quả nghiên cứu: gồm 3 chương về đặc điểm hiện trạng, tiểm năng tài nguyên sinh thái kinh tế, cấu trúc, chức năng của thành phố, đánh giá sự cân bằng của hệ, phát thảo quy hoạch và quản lý hệ sinh thái kinh tế xã hôi thành phố Nha Trang. Ngoài ra, khóa luận còn bao gồm phắn phụ lục với một số bảng biểu và các vấn để liên quan đến để tài. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI.
Về không gian: bài khoá luận nghiên cứu hệ thống sinh thái kinh tế xã hôi trên phạm vi thành phố Nha Trang với ranh giới địa chính hiện nay, bao gốm 19 phường và 8 xã “Trường (Dai hoe ut pham 7p. Xế Chi Mink SOTA: Hoaydn Trịnh Hoge Wlén Khoa lagu từ? nghiệp cử nahin dia lé Thay huatag ddan: Ths. Frdn Ode Thanh (2 Về thời gian: bài khoá luận được tiến hành trên cơ sở thu thập. tổng hợp các nguồn tư liệu từ năm 1992 đến nay.
nghiên cứu định hướng quy hoạch phát triển hệ thống sinh thái kinh tế xã hội đến nim 2010. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ. Hướng nghiên cứu sinh thái kinh tế trên thế giới. Hướng nghiên cứu sinh thái tự nhiên và sinh thái con người.
Đây là hướng nghiên cứu được khá nhiều các nhà khoa học thco đuổi. Chính vì vậy mà hiện nay chúng ta có khá nhiều những công trình khoa học có giá trị về lý thuyết và ứng dụng trong lĩnh vực này. Giáo sư Davigneaud và Tanghe với “Công nghệ sinh thái và sinh quyển” đã nêu lên những vấn dé phức tạp nhất của hệ sinh thái hoc, vị trí và vai trò của con người trong sinh quyển. Trong đó, ở phẩn sinh quyển, ông đã để cập tới năng suất con người và nhu cầu lương thực, ngay cả nan đói, mức tăng đân số trên Trái Đất và sự suy giảm nguồn lương thực.
Odum với “Co sở sinh thái học” hai tập đã nêu khá đẩy đủ những kiến thức cơ bản về hệ sinh thái, về vấn để môi trường, kinh tế trong hệ sinh thái nông nghiệp. Và hệ sinh thái người có các công trình nghiên cứu của Pvehrlichetal, M. Federich Sargent HH. Gerasimov với tác phẩm “Địa lý học và sinh thái học* đã dé cập tới vấn để phương pháp tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu địa lý, lý thuyết về hệ sinh thái tự nhiên, khía cạnh địa lý của vấn để sinh thái, vấn để kinh tế và phi kinh tế trong việc đánh giá tác động của con người đến môi trường.
Đây là một tài liệu có giá trị vé lý luận và thực tiễn nghiên cứu sinh thái kinh tế xã hội thành phố Nha Trang. Công trình “ Đánh giá tác động môi trường” của Interim Mekong Committee đã vận dụng nguyên lý sinh thái học trong việc phát triển lưu vực sông nhiệt đới. Hiện nay, một số nhà khoa học như: Papadakis, Ellenbeng, Oua và Lgk. đã ứng dung sinh thai hoc trong nghiên cứu sinh thái đồng ruộng.
“Thường Dai học ut pham Te. Wế Ohi Mink n 7r/nh Hoos H Khod luận tất ngiiệp sử hàm dia li “Thấu hating din: Tha. Trin Oan Thanh tr Ngoài ra còn có một số hướng nghiên cứu được các nha khoa học tai nhiều nước theo đuổi. đó là nghiên cứu tổng hợp cảnh quan theo quan điểm sinh thái.
Hướng nghiên cu sinh thái kinh tế và kinh tế sinh thái. So với hướng nghiên cứu đã trình bày ở phan trên, đây là hướng nghiên cứu đối tượng khá mới mẻ nhầm giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển và cân bằng sinh thái. Zucchetto, trong công trình nghiên cứu “ /ệ thống vùng về mối quan hệ tương tác giữa sinh thái kinh tế và nang lượng” và Gotland - Thuy Điển đã trình bày ~ phương pháp luận nghiên cứu một hệ thống nghiên cứu phức hợp về con người và tự nhiên ở đảo Gotland” hay Michael J. Dover và Lee M.
Talbot đã “áp dung những quan điểm sinh thái nghiên ciêu nông nghiệp phát triển lâu bên ". Và gắn đây Herman Daly và những người khác đã để xướng một ngành khoa học mới: kinh té sinh thái học. Đây được coi là cầu nối giữa hai lĩnh vực kinh tế và sinh thái. Họ cũng đã thành lập một tổ chức mang tên “đội kinh tế ~ sinh thái học quốc tế” và đã nhóm họp lấn đầu tiên tại tru sở Ngân hàng Thế giới ở thủ đô Washington, chính trong cuộc họp này nhiều vấn để đã được các nhà sinh thái kinh tế học nêu lên xoay quanh ý tưởng về sự phát triển tư duy.
Đây là bước phát triển không làm tổn hại đến thiên nhiên, giữ được thế bình quần của môi trường sao cho thiên nhiên tự đuy trì và tự tái tạo lại chính bản thân mình. Họ đã đưa ra những chỉ số kỹ thuật đo lường mới trong kính tế nhằm tìm ra được chính xác giá trị thực sự của sự phát triển kinh tế với sự phát triển lâu bền như: chỉ số phúc lợi lâu bén ISEW thay thế cho chỉ số GNP vẫn được sử dung (Herman Daly và John Cobb), trong đó để cập tới sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên khi chúng được đùng để sản xuất hàng hoá và dịch vụ cũng như những phí tổn do ô nhiễm tạo ra. Hay như nhà sinh thái học người Mỹ - Howardodarno đã để nghị một phương pháp sử dụng các đơn vị năng lượng ( energy) cho các đơn vị cụ thể để thấy rõ giá trị đích thực của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên sau khi đã tính tất cả những thiệt hại do sự khai thác này. Họ đang cố gắng tìm kiếm những đơn vị chỉ tiêu mới, định hướng khái niệm phát triển tư duy nhằm chứng minh cho các nhà hoạt động chính trị.
nhất là ở các nước đang phát triển. những người rất ít chú ý đến ý kiến của các chuyên gia bảo vệ môi trường, thấy rằng việc phát triển kinh tế theo hướng mới có lợi hơn nhiều so với hướng cũ, chỉ phát triển kinh tế đơn thuần để có thể có những định hướng phát triển kinh tế bến vững trên thế giới trong tương làn, “hường ‘Dai học ut nhạm Tp. Xế Ohi Sinh 3707X:/Nguyln “Trịnh Ngọc Xiến Khod luận tất nghiệp cử whan dia li Thdy butting chấn: Tha. Trin Ode Think t4 Hiện nay một vài khoa học kỹ thuật của khoa học kinh tế sinh thái học và Ngân hàng Phát triển châu A.
Ngân hàng Thế giới đã được áp dung khi xét duyệt các dự ấn. Tuy hướng nghiên cứu này còn mới mẻ nhưng lại rất cắn thiết vì nó giải quyết được mối quan hệ hài hoà giữa phát triển kinh tế và cân bằng sinh thái. một điểu đã bị lãng quên từ trước đến nay. Những việc nghiên cứu ở cấp quy mô của một địa bàn theo hướng nghiên cứu sinh thái kinh tế hay kinh tế sinh thái hiện còn quá ít và chưa được sự quan tâm đúng mức của các nhà khoa học.
Hướng nghiên cứu có liên quan đến kinh tế sinh thái ở Việt Nam. Vì đây là một ngành khoa học mới mẻ trên thế giới và đang trong quá trình xây dựng phát triển đi đến toàn diện nên phát triển theo hướng này vẫn chưa được các nhà khoa học có liên quan trong nước (nghiên cứu sinh thái, môi trường. địa lý, kinh tế.) nghiên cứu một cách sâu rộng. Tiếp can lý thuyết hệ thống và sinh thái học.
Đào Thế Tuấn với tác phẩm Hệ sinh thái nông nghiệp đã trình bày nông nghiệp như một hệ thống mà đơn vị là hệ sinh thái nông nghiệp. Tác giả tập trung nghiên cứu đặc điểm, tổ chức, hoạt động của hệ sinh thái bằng mô hình sinh thái. Trấn An Phong và các tác giả với “Cơ sở khoa học bố trí sử dụng đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cừu Long" đã ứng dụng quan điểm sinh thái để lập bản đổ sinh thái nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long, tỉ lệ 1/ 25.000 nhằm đáp ứng những yêu cẩu xây dựng những dự án phát triển kinh tế. Với quan điểm hệ thống va động.
xem xét các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội trong mối quan hệ biện chứng, đặt trong quá trình phát sinh, phát triển chương trình 60B nghiên cứu vé đồng bằng sông Cửu Long, đã xây dựng các biểu đổ đơn tính và tổng hợp thể hiện quy luật hình thành và cần thiết cho khai thác tài nguyên, đặc biệt là quan điểm phát triển kinh tế sinh thái đã được dp dung để xây dựng các bản để thích nghi, bản đổ vùng lúa năng suất cao với các phương tiện đầu tư, khai thác khác nhau tuỳ theo khả năng vốn có, chúng lổng lên trên các bản dé môi trường vật lý, môi trường sinh thái, sinh thái thuỷ vực, chương trình còn dé ra hướng khai thác tổng thể tài nguyên sinh thái trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hướng nghiên cứu này còn được thể hiện trong các công trình nghiên cứu của các tic giả như Lé Văn Thượng, Lê Bá Thảo, Tran Văn Thanh,. và “Tường Dai học st pham Te. Xá Chi Mink SOTH: /NguuÊn Trinh Hyoe Xiêm Kho luận tát sghiệp cử nhắm địa ti Thiby biting dẫn: Ths.
“Trấn Van Thanh 03 công trình đầu tiên theo hướng sinh thái kinh tế ở Việt Nam là: “Bude đẩu tiép cận lý thuyết hệ thống sinh thái kinh tế vào nghiên ciêu lãnh thổ Hà Nội” và cdc bài báo cáo khoa học khác của Nguyễn Đắc Hy. Tác giả đã cu thể hoá, tận dung quan điểm sinh thái phát triển trong mối quan hệ giữa phát triển và môi trường, nhất là quan hệ giữa sử dung tài nguyên hợp với cân bằng sinh thái và môi trường các vùng lãnh thổ.