CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC MINH, THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về xác minh, thu thập chứng cứ trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 1.1 Khái niệm chứng cứ Chứng cứ là những gì có thật được thu theo những trình tự thủ tục luật định, phản ánh sự thật khách quan, là bằng chứng nhằm mục đích chứng minh, làm rõ và giải quyết vụ việc khi có xảy ra tranh chấp, vụ án,… Chứng cứ được pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước đề cập đến, cụ thể: Điều 401 Luật chứng cứ của Mỹ định nghĩa:“Chứng cứ là những gì mà hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân sự hàm chứa đó ảnh hưởng tới việc xác định được một hành động hơn hoặc kém hơn”1. Luật tố tụng dân sự Nhật Bản định nghĩa: “Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Tòa án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại hay không?”2. Khái niệm chứng cứ được ghi nhận lần đầu tương đối đầy đủ tại Điều 81 BLTTDS năm 2004: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự là có căn cứ hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”3. Hiện nay, theo BLTTDS 2015 khái niệm chứng cứ được quy định tại 1 “Đương sự - Chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất trong tố tụng dân sự” tại địa chỉ: https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-dan-su/duong-su-chu-the-dau-tien-va-quan-trong-nhat-cua-hoat- dongchung-minh-trong-to-tung-dan-su.aspx; 2 “Đương sự - Chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất trong tố tụng dân sự” tại địa chỉ: https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-dan-su/duong-su-chu-the-dau-tien-va-quan-trong-nhat-cua-hoat- dongchung-minh-trong-to-tung-dan-su.aspx; 3 Điều 81 BLTTDS năm 2004; 8 Điều 93 như sau: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.4 Trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Như vậy, khái niệm chứng cứ đã được pháp luật quy định một cách rất cụ thể, trong thực tế, tính hợp pháp của chứng cứ được xác định thông qua hoạt động chứng minh được Toà án và những người tham gia tố tụng thực hiện và tuân thủ.
Trong quá trình chứng minh, trong các giai đoạn tố tụng, hoạt động sử dụng chứng cứ gắn liền với hoạt động đánh giá chứng cứ, đánh giá chứng cứ và sử dụng chứng cứ có mối quan hệ chặt chẽ không tách rời. Kiểm tra, đánh giá chứng cứ là tiền đề, là điều kiện cho sử dụng chứng cứ. Sử dụng chứng cứ là sự kiểm nghiệm, xác định lại kết quả của hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Đánh giá chứng cứ không đúng, tất yếu dẫn đến kết quả sai lầm, không đúng đắn của việc sử dụng.
Ngược lại, việc sử dụng chứng cứ sai mục đích, không phù hợp giữa nội dung, giá trị chứng minh của chứng cứ với đối tượng cần phải chứng minh là làm hạn chế kết quả của hoạt động đánh giá chứng cứ.2 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại Để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự nói chung, kinh doanh thương mại nói riêng, Tòa án phải dựa vào yêu cầu cụ thể của người khởi kiện để xác định quan hệ pháp luật mà đương sự tranh chấp. Từ đó, đối chiếu với các quy định về thẩm quyền của BLTTDS để xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự có thuộc thẩm quyền của Tòa án hay không. Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp còn có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự. Điều 93 BLTTDS 2015; 4 9 Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh, thương mại là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới.
Khái niệm này được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây cùng với sự nhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc của cơ chế kế hoạch hóa đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lý của người Việt Nam. Tại Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.” Theo quy định trên, có thể hiểu khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại như sau: “Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hoặc xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại.” Tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là một loại tranh chấp diễn ra phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Đôi khi vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, các mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các nhà kinh doanh cũng có những bất đồng và mâu thuẫn dẫn đến các tranh chấp trong việc thực hiện các cam kết.3 Khái niệm xác minh, thu thập chứng cứ trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Trong nghiên cứu khoa học pháp lý nhiều tác giả đã đưa ra những khái niệm khác nhau về xác minh, thu thập chứng cứ. Tác giả Tưởng Duy Lượng cho rằng: “Thu thập chứng cứ là một hành vi tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ do đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp, hoặc do chính Tòa án trực tiếp sử dụng các biện pháp để thu thập”5.
Tác giả Nguyễn Minh Hằng lại cho rằng: “Hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ được hiểu là hoạt động tố tụng dân sự của các chủ thể chứng minh trong 5 Tưởng Duy Lượng (2005), “Chứng cứ và chứng minh – Sự thay đổi nhận thức trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Đặc san Nghề Luật, (10), Hà Nội, tr.12; 10 việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ bằng các phương pháp, biện pháp theo một trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định”6. Hai tác giả đều có những điểm chung về khái niệm xác minh, thu thập chứng cứ, đó là: Xác minh, thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng dân sự của các chủ thể chứng minh; được tiến hành theo trình tự thủ tục được pháp luật tố tụng dân sự quy định. Tác giả Nguyễn Kim Lượng lại có khái niệm về hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án là: "Việc xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án là hoạt động của Thẩm phán trong việc tiến hành các biện pháp pháp lý theo quy định của pháp luật nhằm tập hợp các chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự đã được Tòa án thụlý để xây dựng, hoàn thiện hồ sơ, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự"7. Khái niệm thu thập chứng cứ được thể hiện ở Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội như sau: “Thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp, đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự”8.
Khái niệm này đã đề cập đến được bản chất của biện pháp thu thập chứng cứ cũng như mục đích của hoạt động thu thập chứng cứ nhằm để “nghiên cứu”, “đánh giá và sử dụng” trong hoạt động giải quyết vụ việc tranh chấp kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, hoạt động thu thập chứng cứ của một số chủ thể hiện nay chưa được pháp luật tố tụng quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, không giống như Tòa án, là thông qua việc áp dụng thủ tục, trình tự cũng như điều kiện chặt chẽ do pháp luật quy định thì các chứng cứ mà Tòa án thu thập được mới có giá trị pháp lý và được sử dụng vào việc giải quyết vụ việc dân sự. Từ những quan điểm nêu trên có thể kết luận về khái niệm xác minh, thu thập chứng cứ trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại như sau: “Xác 6 Nguyễn Minh Hằng (2007), Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, Hà Nội, tr.64; 7 Nguyễn Kim Lượng (2015), Thu thập, nghiên cứ và dánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Trường đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.8; 8 Nguyễn Công Bình (chủ biên) (1997), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trƣờng Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.164; 11 minh, thu thập chứng cứ là hoạt động của các chủ thể ợc pháp luật quy định trong việc thực hiện các biện pháp pháp lý theo trình tự, thủ tục luật định, qua đó tập hợp các chứng cứ trong vụ việc tranh chấp kinh doanh thương mại một cách chủ động để xây dựng, hoàn thiện hồ sơ, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình giải quyết vụ việc”.2 Đặc điểm của việc xác minh, thu thập chứng cứ trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ là các hoạt động của quá trình chứng minh, chứng cứ trong tố tụng dân sự làm cơ sở cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của đương sự và phán quyết của Tòa án trên cơ sở quy định của pháp luật. Hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ trong vụ án kinh doanh thương mại trước hết mang những đặc điểm của vụ án dân sự nói chung và có thêm những đặc điểm đặc thù đối với tranh chấp của vụ án kinh doanh thương mại.