Tổng quan nghiên cứu

Thị trường tài chính Việt Nam trong giai đoạn đổi mới ghi nhận sự phát triển vượt bậc về quy mô và định chế, tuy nhiên tỷ lệ người dân tiếp cận các dịch vụ tài chính ngân hàng chính thức thời điểm nghiên cứu mới đạt khoảng 20%, để lại một lượng vốn nhàn rỗi rất lớn chưa được khai thác. Trong bối cảnh đó, hệ thống tổ chức tín dụng phi ngân hàng với 18 công ty tài chính được thành lập, trong đó có 12 đơn vị trực thuộc các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn then chốt cho nền kinh tế. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ những xung đột pháp lý và rào cản thể chế khi Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đi vào thực tiễn, tạo ra áp lực tái cấu trúc sâu sắc lên hoạt động cấp tín dụng của các công ty tài chính, đặc biệt là các đơn vị mang tính nội bộ ngành.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức tín dụng phi ngân hàng, phân tích thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh nghiệp vụ huy động vốn và cấp tín dụng, đồng thời mổ xẻ thực tiễn áp dụng tại Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Công nghiệp Tàu thủy (VFC). Phạm vi không gian nghiên cứu đặt tại thị trường tài chính Việt Nam với trọng tâm là mô hình VFC thuộc Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, giới hạn thời gian từ khi ban hành Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 đến giai đoạn thực thi các thông tư chuyên ngành năm 2013. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học nhằm giải quyết điểm nghẽn thanh khoản cho 100% doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn kinh tế, định hình khung pháp lý an toàn và nâng cao hiệu quả luân chuyển nguồn lực tài chính quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết trung gian tài chính hiện đại kết hợp với lý thuyết điều tiết thị trường và kiểm soát rủi ro hệ thống nhằm phân tích bản chất của tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Mô hình nghiên cứu đặt trọng tâm vào mối quan hệ tương tác ba chiều giữa cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước), tổ chức tín dụng phi ngân hàng (công ty tài chính) và các chủ thể sử dụng vốn (doanh nghiệp thành viên cùng khách hàng đại chúng). Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: tổ chức tín dụng phi ngân hàng theo Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; hoạt động cấp tín dụng thông qua các nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh ngân hàng, chiết khấu công cụ chuyển nhượng; và cơ chế bảo đảm an toàn tín dụng theo quy chuẩn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Khung lý thuyết này khẳng định công ty tài chính không đơn thuần là đơn vị thu xếp vốn nội bộ mà là một định chế phân phối vốn chuyên nghiệp, đòi hỏi sự cân bằng tuyệt đối giữa mục tiêu hỗ trợ sản xuất kinh doanh và nguyên tắc phòng ngừa rủi ro tín dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, Nghị định số 79/2002/NĐ-CP, cùng chuỗi văn bản điều hành của Ngân hàng Nhà nước gồm Thông tư 15/2009/TT-NHNN, Thông tư 42/2011/TT-NHNN, Thông tư 04/2012/TT-NHNN, Thông tư 21/2012/TT-NHNN, Thông tư 28/2012/TT-NHNN và Thông tư 01/2013/TT-NHNN. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 18 công ty tài chính đang hoạt động tại Việt Nam, kết hợp khảo sát sâu 1 trường hợp điển hình đại diện cho khối doanh nghiệp nhà nước là VFC với chuỗi số liệu tài chính giai đoạn 2002-2013.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được lựa chọn vì VFC là mô hình công ty tài chính điển hình chịu tác động mạnh nhất từ sự thay đổi của khung khổ pháp lý tín dụng ngân hàng. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp với phương pháp so sánh luật học và thống kê mô tả. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đối chiếu trực tiếp các quy chuẩn pháp lý hiện hành của Việt Nam với thông lệ quốc tế tại Thụy Điển và Nhật Bản, từ đó bóc tách chính xác những điểm nghẽn thể chế, xác định nguyên nhân cốt lõi gây mất cân đối dòng tiền và đề xuất giải pháp sửa đổi luật mang tính khả thi cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khung pháp lý mới tạo ra sự thắt chặt đột ngột đối với kênh huy động vốn của các công ty tài chính. Theo Điều 108 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, công ty tài chính bị triệt tiêu hoàn toàn quyền nhận tiền gửi từ cá nhân và chỉ được nhận tiền gửi từ tổ chức. Bên cạnh đó, Thông tư số 01/2013/TT-NHNN siết chặt hoạt động nhận tiền gửi liên ngân hàng với kỳ hạn tối đa chỉ 03 tháng, trong khi Thông tư số 21/2012/TT-NHNN khống chế thời hạn vay vốn giữa các tổ chức tín dụng dưới 01 năm. Sự suy giảm kênh vốn ngắn hạn này làm tăng chi phí vốn đầu vào của công ty tài chính lên khoảng 15% đến 20% so với hệ thống ngân hàng thương mại.

Thứ hai, quy định hạn chế cấp tín dụng tại Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 bộc lộ sự bất cập sâu sắc khi áp dụng vào thực tế các tập đoàn kinh tế. Luật quy định tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một cổ đông lớn hoặc công ty con, công ty liên kết không được vượt quá 5% vốn tự có của công ty tài chính, và tổng dư nợ cho tất cả các công ty liên kết không quá 20% vốn tự có. Trong khi đó, tại VFC, tỷ trọng cho vay nội bộ tập đoàn phục vụ đóng tàu trước đây chiếm hơn 85% tổng danh mục cấp tín dụng. Giới hạn 5% buộc công ty tài chính phải cắt giảm dòng vốn nội bộ, gây đứt gãy tức thì chuỗi tài trợ cho các dự án đóng tàu trọng điểm quốc gia.

Thứ ba, sự mất cân đối kỳ hạn nghiêm trọng xuất hiện do quy định khống chế tỷ lệ an toàn vốn. Thông tư số 15/2009/TT-NHNN quy định tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn của công ty tài chính là 30%. Các dự án công nghiệp nặng như đóng tàu của Vinashin đòi hỏi chu kỳ vốn dài hạn từ 60 tháng trở lên, khiến công ty tài chính luôn rơi vào tình trạng mất cân đối kỳ hạn nghiêm trọng giữa nguồn vốn huy động ngắn hạn và tài sản nợ dài hạn.

Thứ tư, những rào cản kỹ thuật trong hoạt động cấp tín dụng hợp vốn và ủy thác đầu tư làm suy giảm vị thế điều phối vốn. Dù Thông tư 04/2012/TT-NHNN mở rộng nghiệp vụ ủy thác nhưng lại đặt điều kiện bên ủy thác không được có dư nợ tín dụng tại tổ chức tín dụng khác, loại bỏ gần 70% đối tác tiềm năng. Đồng thời, Thông tư 42/2011/TT-NHNN tước bỏ quyền làm đầu mối cấp tín dụng và đầu mối thanh toán của công ty tài chính khi tham gia hợp vốn cùng ngân hàng thương mại, triệt tiêu vai trò trung tâm thu xếp vốn của mô hình này.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ việc nhà lập pháp áp dụng chung chuẩn mực an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại bán lẻ cho các tổ chức tín dụng phi ngân hàng chuyên biệt. Cơ cấu bảng cân đối tài sản của công ty tài chính có thể được hình dung qua bảng so sánh cấu trúc nguồn vốn và biểu đồ phân bổ dư nợ tín dụng theo kỳ hạn. Dữ liệu mô tả cấu trúc vốn cho thấy sự chênh lệch lớn khi nguồn vốn dài hạn chỉ chiếm khoảng 25% tổng tài sản nợ, trong khi nhu cầu vay vốn trên 60 tháng lại chiếm tới 75% danh mục tài trợ.

So sánh với mô hình tài chính bán buôn tại Nhật Bản và Thụy Điển, các công ty tài chính quốc tế được phép phát hành đa dạng các công cụ nợ trên thị trường vốn và không bị giới hạn nghiêm ngặt về tỷ lệ tài trợ cho chuỗi cung ứng liên kết. Tại Việt Nam, sự thiếu vắng các công cụ phái sinh và thị trường trái phiếu doanh nghiệp kém thanh khoản đã đẩy các đơn vị như VFC vào thế bế tắc kép: không thể huy động vốn ngoài tập đoàn nhưng cũng không được phép cấp tín dụng vượt trần cho các đơn vị trong tập đoàn. Điều này dẫn đến sự suy giảm khả năng thanh toán và làm gia tăng nợ xấu trong toàn bộ hệ thống tài chính tập đoàn kinh tế nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, sửa đổi đồng bộ quy định về huy động vốn tại Luật Các tổ chức tín dụng và các thông tư hướng dẫn. Ngân hàng Nhà nước cần chủ trì sửa đổi Thông tư số 04/2012/TT-NHNN và Thông tư 01/2013/TT-NHNN trong giai đoạn 2014-2015, cho phép công ty tài chính tiếp nhận vốn ủy thác từ cá nhân và nới lỏng kỳ hạn vay vốn trên thị trường liên ngân hàng lên mức 1 đến 3 năm nhằm đa dạng hóa nguồn vốn đầu vào.

Thứ hai, thiết lập cơ chế kiểm soát linh hoạt về giới hạn cấp tín dụng nội bộ đối với công ty tài chính chuyên ngành. Quốc hội và Ngân hàng Nhà nước cần bổ sung quy định đặc thù tại Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng, nâng hạn mức cấp tín dụng đối với các công ty con trong cùng tập đoàn từ mức 5% hiện nay lên mức trần 15% đến 25% vốn tự có, áp dụng kèm điều kiện giám sát dòng tiền theo từng dự án cụ thể với lộ trình hoàn thiện trong vòng 24 tháng.

Thứ ba, tái cơ cấu danh mục tài sản và hiện đại hóa quy trình cấp tín dụng tại VFC. Ban điều hành VFC cần triển khai ngay trong 12 tháng kế hoạch giảm tỷ trọng dư nợ tín dụng nội bộ từ mức trên 80% xuống dưới ngưỡng 50%, đồng thời đẩy mạnh các sản phẩm tín dụng thương mại như bao thanh toán và cho thuê tài chính đối với 100% doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc ngành công nghiệp phụ trợ.

Thứ tư, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa và chuyển đổi mô hình sở hữu của VFC. Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải hoàn thành phương án cổ phần hóa VFC trong giai đoạn 2014-2016, giảm tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước xuống mức 51% đến 65% để thu hút các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước, tăng quy mô vốn điều lệ đạt chuẩn an toàn vốn tối thiểu theo tiêu chuẩn Basel II.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp. Công trình là tài liệu tham chiếu trực tiếp để rà soát, đánh giá tác động của Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, hỗ trợ soạn thảo các thông tư hướng dẫn về bảo lãnh ngân hàng, chiết khấu giấy tờ có giá và tỷ lệ an toàn vốn cho 18 công ty tài chính đang hoạt động.

Thứ hai, Hội đồng quản trị và Ban điều hành các công ty tài chính, tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Lãnh đạo doanh nghiệp có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản, tái cấu trúc kỳ hạn danh mục cho vay dưới 12 tháng và trên 60 tháng, đồng thời thiết lập quy trình cấp bảo lãnh chuẩn hóa 3 chữ ký theo Thông tư số 28/2012/TT-NHNN.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng. Luận văn cung cấp khung phân tích thể chế hoàn chỉnh, hệ thống hóa 15 văn bản quy phạm pháp luật ngân hàng qua các thời kỳ, phục vụ công tác giảng dạy các học phần pháp luật ngân hàng và quản trị định chế tài chính.

Thứ tư, đội ngũ luật sư tư vấn và chuyên viên pháp chế doanh nghiệp. Đây là cẩm nang hữu ích để xử lý các xung đột pháp lý trong giao dịch cấp tín dụng hợp vốn, thẩm định tính hợp pháp của tài sản bảo đảm và soạn thảo hợp đồng tín dụng với mức lãi suất phạt quá hạn tối đa 150% theo đúng quy chuẩn pháp lý.

Câu hỏi thường gặp

Công ty tài chính khác ngân hàng thương mại ở những điểm cơ bản nào theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010?

Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở phạm vi huy động vốn và dịch vụ thanh toán. Công ty tài chính chỉ được nhận tiền gửi của tổ chức, hoàn toàn không được nhận tiền gửi của cá nhân, không được cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản hay phát hành séc. Ngược lại, ngân hàng thương mại được nhận tiền gửi từ mọi chủ thể và cung cấp trọn gói các dịch vụ tài khoản thanh toán cho 100% khách hàng.

Tại sao giới hạn cấp tín dụng 5% vốn tự có tại Điều 127 lại tạo ra rào cản lớn cho VFC?

VFC được thành lập với mục tiêu cốt lõi là điều phối dòng vốn nội bộ cho Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, nơi có hơn 85% dư nợ tập trung vào các đơn vị thành viên. Khi trần tín dụng bị siết xuống mức tối đa 5% vốn tự có cho một pháp nhân liên kết, VFC không thể giải ngân vốn cho các dự án đóng tàu dở dang, dẫn đến tắc nghẽn vốn nghiêm trọng.

Quy định về thẩm quyền ký hợp đồng bảo lãnh theo Thông tư 28/2012/TT-NHNN có điểm gì mới?

Thông tư số 28/2012/TT-NHNN bãi bỏ cơ chế chỉ cần 1 chữ ký của Người đại diện theo pháp luật, thay bằng yêu cầu bắt buộc phải có đủ 3 chữ ký trên hợp đồng và cam kết bảo lãnh: Người đại diện theo pháp luật, Người quản lý rủi ro hoạt động bảo lãnh và Người thẩm định khoản bảo lãnh, nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng bảo lãnh không tài sản bảo đảm.

Công ty tài chính có được phép cho vay trung và dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn không?

Có, nhưng bị giới hạn nghiêm ngặt theo tỷ lệ an toàn. Theo Thông tư số 15/2009/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, công ty tài chính chỉ được sử dụng tối đa 30% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung hạn (từ trên 12 đến 60 tháng) và dài hạn (trên 60 tháng), nhằm kiểm soát rủi ro thanh khoản và rủi ro mất cân đối kỳ hạn.

Mức lãi suất áp dụng đối với các khoản nợ gốc quá hạn tại công ty tài chính được khống chế như thế nào?

Căn cứ theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN và Thông tư 04/2013/TT-NHNN, mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn hoặc khoản tiền chiết khấu quá hạn do công ty tài chính thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng nhưng tuyệt đối không được vượt quá 150% mức lãi suất cho vay đang áp dụng trong hạn.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa hệ thống lý luận về tổ chức tín dụng phi ngân hàng, phân tích sự phát triển của 18 công ty tài chính tại Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2013.
  • Công trình chỉ rõ mâu thuẫn thể chế giữa quy chuẩn an toàn đại chúng và đặc thù điều phối vốn nội bộ của công ty tài chính tập đoàn kinh tế.
  • Đánh giá thực chứng toàn diện các rủi ro thanh khoản và mất cân đối kỳ hạn tại VFC dưới tác động của trần vốn ngắn hạn cho vay dài hạn 30%.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp lập pháp, kiến nghị nới lỏng giới hạn cấp tín dụng nội bộ lên 15% đến 25% vốn tự có kèm cơ chế giám sát rủi ro.
  • Đề xuất lộ trình tái cơ cấu và cổ phần hóa toàn diện mô hình VFC trong khung thời gian 24 tháng nhằm khơi thông dòng vốn cho ngành công nghiệp đóng tàu.

Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp tài chính cần khẩn trương áp dụng những khuyến nghị lập pháp của luận văn để nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo an toàn cho toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia.