Chương 1 Tổng quan về Công ty tài chính và pháp luật về hoạt động tín dụng của Công ty tài chính 1.1 Khái quát chung về Công ty tài chính và hoạt động tín dụng của Công ty tài chính 1.1 Khát quát về Công ty tài chính a. Khái niệm, đặc điểm của Công ty tài chính Trên thế giới, thuật ngữ “Công ty tài chính” không còn gì mới lạ, các nhà tư bản đã quá quen với các hoạt động, cũng như vai trò của nó trên thị trường tài chính tiền tệ. Công ty tài chính (CTTC) cùng các Ngân hàng thương mại có tầm quan trọng rất lớn và được coi như là xương sống của nền 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế. Có thể nói sự ra đời của CTTC là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường, nó tồn tại và hoạt động tuân theo các quy luật của nền kinh tế với chức năng luân chuyển và điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Trên thế giới, ở các nước tư bản, các CTTC xuất hiện rất sớm và phát triển với tốc độ nhanh chóng. Cùng với sự ra đời này, pháp luật các nước đều có những quy định pháp lý làm nền tảng cho các CTTC tồn tại và hoạt động. Ở Thụy Điển, các CTTC được thành lập từ giữa năm 1960 phát triển mạnh vào những năm 1970 và hiện nay CTTC là một trong những nhân tố quan trọng thực hiện chính sách tín dụng của Nhà nước. Ngay từ khi nền kinh tế đòi hỏi sự ra đời của các CTTC các nhà lập pháp Thụy Điển cũng đã có ngay các quy định pháp luật quy định chức năng hoạt động cũng như phạm vi hoạt động của nó.
Ở Nhật Bản, các CTTC được hình thành từ giữa những năm 50 nhằm hỗ trợ vốn cho các cơ sở kinh doanh nhỏ và đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ cho lợi ích tiêu dùng của người dân Nhật Bản. Cho tới nay đã có hàng loạt các CTTC ra đời, nhiều công ty đã nổi lên và chiếm các vị trí quan trọng trong hệ thống các tổ chức tài chính Nhật Bản, chi phối hoạt động của nhiều lĩnh vực kinh tế, không những trong phạm vi đất nước Nhật Bản mà còn vươn ra thế giới với tư cách là những tập đoàn tài chính khổng lồ. Cùng với sự phát triển của CTTC thì sự điều chỉnh của pháp luật đối với CTTC ngày càng hoàn thiện hơn. Như vậy có thể thấy tùy đặc điểm và tình hình nền kinh tế mỗi nước mà các CTTC có thể có phạm vi hoạt động khác nhau song chúng vẫn hoạt động với mục đích chính là luân chuyển, khơi thông dòng vốn, thúc đẩy vòng chu chuyển và tăng hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
Ở Việt Nam, so với hệ thống Ngân hàng thì CTTC là một mô hình 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TCTD khá mới. Sự ra đời hệ thống ngân hàng tại Việt Nam được đánh dấu bằng sắc lệnh số 15/SL ngày 06/5/1951 do Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký. Kể từ khi thành lập, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, tới nay hệ thống Ngân hàng đã được phân chia thành Ngân hàng Nhà nước với chức năng quản lý điều tiết nền kinh tế tiền tệ và các Ngân hàng chuyên doanh khác. Trong khi đó, CTTC chỉ mới được chính thức thừa nhận thông qua Pháp lệnh ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và CTTC do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 24/5/1990.
Theo đó “CTTC, công ty quốc doanh hoặc cổ phần hoạt động chủ yếu là cho vay để mua bán hàng hóa dịch vụ bằng nguồn vốn của mình hoặc vay trong dân cư” Những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho thấy mức độ khát vốn nghiêm trọng của nền kinh tế Việt Nam. Các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô, hình thức, thành phần đều thiếu vốn. Nhu cầu điều tiết vốn trên thị trường làm nảy sinh hàng loạt các quỹ tín dụng với rất nhiều điểm tư- ơng đồng với CTTC là huy động tiền gửi trong dân cư và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ. Cùng sự lớn mạnh của nền kinh tế, sự biến chuyển của thị trường trong nước và quốc tế năm 1997, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật các TCTD quy định về tổ chức, hoạt động của các TCTD và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác ở Việt Nam.
Tại Luật các TCTD ngày 12/12/1997 CTTC chưa được định nghĩa đầy đủ, song được xếp vào TCTD phi ngân hàng. TCTD phi ngân hàng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán. TCTD phi ngân hàng gồm CTTC, công ty cho thuê tài chính và các TCTD phi ngân hàng khác. Tiếp đó để cụ thể hóa cách thức tổ chức và phạm vi hoạt động của CTTC, năm 2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2002/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của CTTC.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo đó CTTC đã được định nghĩa đầy đủ: “CTTC là loại hình TCTD phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm”. Có thể thấy so với Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, CTTC (ngày 24/5/1990), CTTC không còn bị bó hẹp trong hai hình thức là công ty quốc doanh và công ty cổ phần, các hoạt động nghiệp vụ cũng được mở rộng hơn. Năm 2010, Quốc hội ban hành Luật các TCTD số 47/2010/QH12 thay thế Luật các TCTD 1997 với nhiều quy định mới về tổ chức và hoạt động của các TCTD. Theo quy định tại Khoản 4, Điều 4 Luật các TCTD 2010 thì CTTC được xếp vào các TCTD phi ngân hàng: “TCTD phi ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng.
TCTD phi ngân hàng bao gồm CTTC, công ty cho thuê tài chính và các TCTD phi ngân hàng khác” Hệ thống các TCTD ở Việt Nam được phân chia thành hai loại, đó là: ngân hàng và các TCTD phi ngân hàng. Tuy được quy định dưới các hình thức khác nhau với tên gọi và phạm vi hoạt động nghiệp vụ khác nhau nhưng chúng đều nằm trong hệ thống TCTD.CTTC mang đầy đủ các đặc trưng của một TCTD nói chung: - Thứ nhất, CTTC là doanh nghiệp có đối tượng kinh doanh trực tiếp là tiền tệ. Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung thống nhất. Nó được dùng để biểu hiện và đo lường 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giá trị của hàng hoá khác, làm phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ.
Chính do sản phẩm kinh doanh là tiền tệ đã tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa TCTD nói chung và CTTC nói riêng với các doanh nghiệp khác. Do các chức năng của mình, tiền tệ là một sản phẩm kinh doanh có tính nhạy cảm với thị trường hơn bất cứ một lĩnh vực kinh doanh nào khác. Mọi biến động của nền kinh tế ngay lập tức sẽ ảnh hưởng tới giá trị đồng tiền và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Chính vì các hoạt động của CTTC cũng bị biến động theo, thiếu tính ổn định, mang tính nhạy cảm và rủi ro rất lớn.
- Thứ hai, CTTC là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt doanh nghiệp là TCTD với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác, kể cả các doanh nghiệp có hoạt động ngân hàng không thường xuyên như các công ty bảo hiểm, công ty kinh doanh chứng khoán. Đặc điểm này có ý nghĩa quyết định đến cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của các CTTC.
Những tác động tích cực và tiêu cực của hoạt động kinh doanh của các TCTD có tính dây chuyền. Chẳng hạn khi một CTTC cho vay không thu hồi được vốn dẫn tới tình trạng không thể thanh toán cho khách hàng khi đến hạn. Điều này có thể gây tâm lý hoang mang cho không chỉ khách hàng của CTTC đó mà cả các khách hàng của các TCTD khác, dẫn đến hiện tượng khách hàng đồng loạt tới các TCTD rút tiền gửi, đẩy các TCTD vào tình trạng thiếu khả năng chi trả, gây ra sự mất ổn định cho cả nền kinh tế. - Thứ ba, CTTC là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà nước 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Ngân hàng Nhà nước và thuộc phạm vi áp dụng pháp luật ngân hàng.
Tuy vậy, CTTC có những đặc điểm riêng mà dựa vào đó có thể nhận biết, phân biệt chúng với các loại hình TCTD khác. Sự phân biệt này là cần thiết và quan trọng vì trong nền kinh tế thị trường, các TCTD có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau. Do đó phạm vi hoạt động mà pháp luật quy định cho từng loại hình TCTD cần rõ ràng để tránh sự chồng chéo, khiến cho hiệu quả mà chúng mang lại cho nền kinh tế bị giảm sút. Sự phân biệt ranh giới, phạm vi hoạt động nghiệp vụ của từng loại hình TCTD cũng giúp Nhà nước dễ dàng hơn trong việc quản lý, có các biện pháp điều chỉnh phù hợp và kịp thời.
Từ đó đảm bảo cho một hệ thống tài chính lành mạnh, là cơ sở cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế thị trường non trẻ ở nước ta hiện nay. Vai trò của CTTC Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, CTTC là một định chế tài chính không thể thiếu và ngày càng có vai trò to lớn. Đó là một kênh huy động vốn có tính chuyên nghiệp cao, sử dụng vốn hiệu quả. Thông qua CTTC luồng vốn của thị trường được lưu thông, thúc đẩy sự chu chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế quốc dân.