Chương 1: Cơ sở lý luận về tập đoàn kinh tế nhà nước. Chương 2: Thực trạng về pháp luật Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Quan điểm, phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƢỚC 1. Khái quát chung về tập đoàn kinh tế nhà nƣớc 1.
Quá trình hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế nhà nƣớc ở Việt Nam. Vào những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước tại các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ đã bắt đầu có phong trào hình thành các Liên hiệp xí nghiệp theo ngành nghề trong mọi ngành kinh tế. Những ngành nghề này, được thúc đẩy để tạo điều kiện tích lũy tài sản, công cụ sản xuất, vốn sản xuất. Đây là quy trình chuyển biến tất yếu của sự tích tụ vật chất để tăng hơn nữa hiệu quả kinh tế, trình độ kĩ thuật, tập trung nguồn lực đầu tư vào nhiều mục đích hợp lý khác trong xã hội.
Vì sự hợp lý của các mục tiêu và hiệu quả mà nó mang lại nên các Liên hiệp xí nghiệp hay các tổng công ty ở Đông Âu và Liên Xô cũ phát triển rất nhanh và không thể cưỡng lại, hình thành các tổ chức kinh tế siêu lớn nhiều tầng lớp lên đến các bộ ngành, đối trọng lại với các tập đoàn kinh tế quốc gia và siêu quốc gia của các nước Tư bản chủ nghĩa trong môi trường của chiến tranh lạnh. Có thể nói, ở mỗi thời kỳ phát triển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúng ta có các cách gọi tên mô hình kinh tế khác nhau, nhưng xét về bản chất kinh tế của doanh nghiệp thì mô hình sơ khai của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước được hình thành từ Nghị quyết Trung ương 3, khoá IV của Đảng với tên gọi: "Liên hiệp các xí nghiệp", là "trong công nghiệp, ở những nơi có điều kiện cần tổ chức các liên hiệp xí nghiệp có đủ quyền hạn và trách nhiệm là những đơn vị kế hoạch, đơn vị kinh doanh của ngành. Như vậy, ngay từ đầu chúng ta đã khẳng định sự tôn trọng quy luật khách quan của nền kinh tế, bước đầu hình thành ý tưởng tách quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh, xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu mới của mô hình sản xuất mới trong các doanh nghiệp. Sau một thời gian ngắn tổ chức thực hiện, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hội nghị Trung Ương 6, khoá IV tiếp tục cụ thể hoá quá trình tổ chức liên hiệp xí nghiệp ,tổ chức sản xuất phải theo hướng từng bước thực hiện tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá và liên hiệp hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.
Các liên hiệp xí nghiệp phải hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế. Việc tổ chức liên hiệp các xí nghiệp phải được tiến hành chu đáo, vững chắc, đạt hiệu quả kinh tế thiết thực, không để trở thành cấp trung gian hình thức. Lần đầu tiên cụm từ "Tập đoàn kinh tế" được xuất hiện trong Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII: "Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích và thực hiện từng bước vững chắc, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc đổi mới các liên hiệp xí nghiệp, các tổng công ty theo hướng tổ chức các tập đoàn kinh tế, khắc phục tính chất hành chính trung gian". [7] Việc nghiên cứu và tìm hiểu quá trình hình thành, sử dụng cụm từ "Tập đoàn kinh tế" trong các nghiên cứu, văn kiện của Đảng chính là cơ sở để có thể đưa ra những nhận xét, những đánh giá khách quan về mô hình tổ chức sản xuất này.
Như một số đoạn trích đã nêu trên, chứng tỏ tư duy về mô hình tổ chức sản xuất của nhóm doanh nghiệp cũng phát triển với quá trình đổi mới tư duy kinh tế phù hợp với thực tế phát triển lực lượng sản xuất, phát triển đời sống xã hội và bối cảnh kinh tế quốc tế. Muốn thực hiện công nghiệp hoá theo hướng hiện đại đất nước thì phải đẩy mạnh quá trình tích tụ, tích lũy và tập trung nguồn lực, nguồn vốn lớn. Tương ứng với quá trình này là những doanh nghiệp có quy mô ngày một lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 91/TTg - ngày 7-3-1994, về việc thí điểm thành lập Tập đoàn kinh tế kinh doanh dựa trên các xí nghiệp, công ty cũ.
Ý tưởng thành lập các tổng công ty lớn để từ đó pháp triển thành các Tập đoàn kinh tế là của nguyên Thủ tướng chính phủ Võ Văn Kiệt. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở quyết định này, 18 Tổng công ty thường được gọi là TCT91 được thành lập. Các tổng công ty (TCT) được thiết lập trong hàng loạt các ngành, một số trường hợp các tổng công ty chiếm toàn ngành. Tuy nhiên, hoạt động của nhiều tổng công ty nhà nước còn thiếu năng động, linh hoạt trong kinh doanh, vẫn với cung cách làm ăn cũ, chất lượng sản phẩm chưa được cải tiến đáng kể so với chất lượng của các sản phẩm cùng loại trên thị trường, sản lượng thấp.
Ý tưởng về tập đoàn kinh tế được Thủ tướng Chính phủ đưa ra ngay từ khi quyết định thành lập TCT 91. Nhưng phải gần 10 năm sau, đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa IX (tháng 9-2001) về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước thì vấn đề thành lập Tập đoàn kinh tế nhà nước mới được đề cập một cách cụ thể. Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: "Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh. Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng…” [8] Triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế từ đầu năm 2005 nhằm thực hiện các mục tiêu: 1 – Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 – Bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác; 3 – Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn; 4 – Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.
Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung Ương tháng 01 năm 2004 đã đưa ra định hướng xác định: “Tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tổng công ty nhà nước; tích cực chuẩn bị để hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh do tổng công ty làm nòng cốt, có sự tham gia mạnh mẽ của các thành phần kinh tế trong nước và đầu tư của nước ngoài”. Triển khai Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa IX (tháng 9-2001) và định hướng của Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung Ương tháng 01 năm 2004, tháng 11-2005, Tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tiên của nước ta là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TVN) đã ra đời và đi vào hoạt động, theo Quyết định số 198/2005/QĐ-TTg, ngày 8-8-2005 của Thủ tướng Chính phủ, về việc thành lập công ty mẹ. Cùng năm đó, Tổng công ty Dệt may Việt Nam cũng được chuyển thành Tập đoàn Dệt may Việt Nam; Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam cũng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt. Tiếp theo đó năm 2006, tổng công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (VNPT), tổng công ty Dầu khí Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).
Đầu năm 2007, Thủ tướng Chính phủ có văn bản đồng ý để tổng công ty Thuốc lá Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Thuốc lá Việt Nam; và Tập đoàn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chế tạo cơ khí nặng (do TCT Lắp máy Việt Nam làm nòng cốt); TCT Cao su Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam; đầu năm 2010 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam, hoạt động theo hình thức công ty mẹ -công ty con với đơn vị nòng cốt là Tổng công ty Sông Đà và nhiều doanh nghiệp khác hoạt động trong lĩnh vực tương đồng thuộc Bộ Xây dựng.Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam sẽ kinh doanh đa ngành, trong đó xây dựng và tổng thầu xây dựng các công trình, chế tạo và sản xuất vật liệu xây dựng là ngành mũi nhọn, làm nòng cốt để ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam phát triển bền vững, có khả năng cạnh tranh, hoạt động hiệu quả.Về cơ cấu, công ty mẹ -Tổng công ty Sông Đà là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, sẽ trực tiếp tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư tài chính vào công ty con, công ty liên kết. Đồng thời, giữ quyền chi phối các công ty con thông qua vốn, tài sản được Nhà nước giao quản lý. Để dần hình thành một tổ chức kinh tế mạnh đa sở hữu, nhưng trong đó sở hữu Nhà nước chiếm tỷ lệ chi phối.