Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HƯU HẠN CÓ TỪ HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 1. Khái quát về Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 1. Khái niệm, đặc điểm của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 1. Khái niệm Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Trước khi đưa ra khái niệm về Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì trước hết phải hiểu về khái niệm về công ty nói chung.
Ở góc độ kinh tế, công ty có thể được hiểu là các tổ chức chuyên hoạt động kinh doanh thương nghiệp dịch vụ, nhằm phân biệt với các nhà máy, xí nghiệp là những đơn vị kinh tế chuyên hoạt động sản xuất [23]. Trong khoa học pháp lý, mỗi nước có một định nghĩa công ty khác nhau. Tuy nhiên, khi xem xét bản chất của công ty, pháp luật của các nước nói chung có một số điểm cơ bản chung thống nhất. Công ty do hai chủ thể trở lên góp vốn thành lập.
Đây là quan niệm truyền thống từ trước đến nay về công ty [19]. Khái niệm về công ty của các nước như Pháp, Đức, Thái Lan và một số nước khác nhau đều chứa đựng yếu tố liên kết, mà muốn liên kết thì phải có nhiều người. công ty sẽ không thỏa mãn yếu tố liên kết nếu chỉ có một chủ thể góp vốn để thành lập. Chủ thể ở đây có thể hiểu là các cá nhân hoặc pháp nhân.
Công ty có thể là sự liên kết giữa hai hay nhiều cá nhân với nhau. Như nhà luật học Kubler Cộng hòa Liên bang Đức quan niệm rằng: “Khái niệm công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lí nhằm tiến hành các hoạt động để đạt được mục tiêu 8 chung nào đó”. Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định: “Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt đông chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó” [19]. Từ khái niệm về công ty qua quy định pháp luật doanh nghiệp nói chung có thể nhận thấy rằng loại hình Công ty TNHH hai thành viên đã được ghi nhận trong Luật Công ty năm 1990 và tiếp tục được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại công ty trung gian giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, nó vừa có những tính chất của công ty đối nhân, là các thành viên quen biết nhau. Hoặc có thể nói Công ty TNHH là doanh nghiệp trong đó có số lượng thành viên hạn chế, các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp vào và công ty không được quyền phát hành cổ phần. Pháp luật doanh nghiệp qua các thời kỳ và hiện nay là Luật Doanh nghiệp năm 2014 không đưa ra khái niệm về Công ty TNHH hai thành viên trở lên mà đưa ra các dấu hiệu nhận biết về loại hình doanh nghiệp này. Theo khoản 1 Điều 26 Luật Doanh nghiệp năm 1999, Công ty TNHH hai thành viên trở lên được nhận biết qua các dấu hiệu cơ bản: “…Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp; Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại Điều 32 của Luật Doanh nghiệp năm 1999; Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi…” [26].
Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định về các loại hình công ty: Công ty TNHH hai thành viên trở lên (Khoản 1, Điều 38): “…Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi;Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và 9 nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp và doanh nghiệp…” [28]. Dựa theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì các yếu tố cơ bản tạo nên khái niệm và cũng là những đặc điểm quan trọng nhất, đó là về “loại hình”, “chủ sở hữu”, “chế độ trách nhiệm” [32]. Như vậy, có thể khái quát khái niệm về Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp do tổ chức hoặc cá nhân thành lập, không quá năm mươi thành viên và các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Đặc điểm công ty TNHH hai thành viên trở lên Từ khái niệm về Công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể thấy loại hình công ty này có những đặc điểm sau: Thứ nhất, là một loại doanh nghiệp mà số lượng thành viên tối thiểu là 02 và tối đa không vượt quá 50 thành viên Thành viên của công ty có thể là cá nhân hay tổ chức, nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài.
Chính sự giới hạn số lượng thành viên tối đa không vượt quá 50 mà loại hình công ty này mang tính chất gia đình và các thành viên thường có mối quan hệ gần gũi, gắn bó với nhau. Đặc điểm này của Công ty TNHH hai thành viên rất gần với bản chất của công ty đối nhân. Mặt khác, vấn đề tổ chức quản lý của Công ty TNHH hai thành viên cũng dễ dàng hơn rất nhiều so với công ty cổ phần vì số lượng thành viên không quá đông vì họ thường có mối quan hệ thân thiết nên dễ dàng tìm được tiếng nói chung khi xảy ra tranh chấp trong quá trình điều hành hoạt động của công ty [19]. Thứ hai, Công ty TNHH hai thành viên chỉ chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính và khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty.
Các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty trừ trường hợp các thành 10 viên chưa góp vốn hoặc góp không đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với số vốn đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty cho đến khi công ty đăng ký điều chỉnh đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên đó. Như vậy, trong Công ty TNHH hai thành viên trở lên có sự phân tách giữa tài sản công ty và tài sản riêng của thành viên công ty. Mặc dù các thành viên cùng nhau góp vốn vào thành lập công ty nhưng số vốn góp này sẽ trở thành tài sản riêng của công ty, tài sản của công ty sẽ được tách bạch với tài sản của các thành viên công ty. Thứ ba, Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một pháp nhân vì nó thỏa mãn tất cả các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về pháp nhân: Là tổ chức có tên riêng, trụ sở giao dịch, có tài sản riêng từ vốn góp của các thành viên công ty và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản chính mình như được phân tích ở phần trên [33].
Thứ tư, Công ty TNHH hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần. Chỉ có công ty cổ phần mới được phép pháp hành cổ phần nhằm huy động vốn với số lượng lớn từ các nhà đầu tư khác nhau trên thị trường mà không bị ràng buộc về điều kiện mua cổ phần. Quy định này hoàn toàn phù với bản chất của Công ty TNHH hai thành viên trở lên vì nó sẽ hạn chế sự gia nhập của thành viên khác vào công ty. Tuy nhiên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên có quyền phát hành trái phiếu để huy động vốn khi thỏa mãn tất cả các quy định của pháp luật.
Thứ năm, vấn đề chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên trong Công ty TNHH hai thành viên trở lên phải tuân thủ trình tự thủ tục chặt chẽ và bị hạn chế rất nhiều so với cổ đông của công ty cổ phần. Các thành viên của công ty có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho chủ thể khác nhưng trước tiên họ phải bán phần vốn góp của mình cho công ty. Nếu công ty không mua thì phải chào bán đến những 11 thành viên của công ty tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp. Nếu thành viên khác không mua hoặc không mua hết thì mới có quyền chào bán cho các chủ thể không là thành viên của công ty.
Vấn đề tặng cho hay dùng phần vốn góp để trả nợ cũng hạn chế và bị ràng buộc bởi những điều kiện chặt chẽ. Quy định này nhằm hạn chế sự gia nhập trở thành thành viên công ty vì các thành viên của Công ty TNHH hai thành viên trở lên là những người có quan hệ thân thiết gắn bó tin tưởng lẫn nhau để cùng nhau góp vốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh 1. Ưu điểm và nhược điểm của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 1. Ưu điểm của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Luật Công ty năm 1990 đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, pháp luật vẫn không có định nghĩa cụ thể về Công ty TNHH hai thành viên trở lên, mà luật chỉ nêu ra các đặc điểm của loại hình công ty này.
Có người cho rằng: “Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một loại hình doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên góp vốn và chịu TNHH về khoản vốn góp” [42], hay “đây là loại hình công ty gồm không quá 50 thành viên góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình”. Theo Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Công ty TNHH hai thành viên trở lên có những đặc điểm cơ bản: số lượng thành viên bị khống chế không được vượt quá 50 thành viên (thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức); công ty là một pháp nhân; thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đóng góp; công ty chỉ có thể phát hành trái phiếu [32].