Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao là một bộ phận cấu thành trong hệ thống thanh tra nhà nước, giữ vai trò tham mưu cho thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định chuyên môn - kỹ thuật và quy tắc quản lý thuộc thẩm quyền của ngành Văn hóa và Thể thao. Thông qua hoạt động thanh tra, cơ quan có thẩm quyền kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong cơ chế, chính sách để kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện; đồng thời hướng dẫn đối tượng quản lý tuân thủ pháp luật, xử lý các hành vi vi phạm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Tại thành phố Hải Phòng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển kinh tế - xã hội, công tác thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao đã đạt được những kết quả cụ thể nhưng vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập:

  • Hoạt động thanh tra chưa bao quát, phủ kín toàn bộ các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của ngành.
  • Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra còn thiếu thốn và lạc hậu so với yêu cầu nhiệm vụ.
  • Chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao chưa đủ sức răn đe, mức xử phạt còn nhẹ so với lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm, trong khi phương thức và thủ đoạn vi phạm pháp luật ngày càng tinh vi.

Trước thực trạng trên, khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về pháp luật thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao, đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật và tình hình thực hiện pháp luật tại thành phố Hải Phòng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực thi pháp luật trên địa bàn.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:

  1. Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật cũng như tình hình thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao tại thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2018 - 2020.
  3. Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và tính khả thi nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao tại thành phố Hải Phòng và các địa phương trên cả nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao từ thực tiễn tại thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hải Phòng, trọng tâm là Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hải Phòng (số 18 Minh Khai, phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, Hải Phòng).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020 (kèm theo số liệu phát triển sự nghiệp văn hóa, thể thao của địa phương giai đoạn 2016 - 2020).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm được khóa luận xây dựng trên cơ sở phân tích học thuật và các văn bản quy phạm pháp luật:

  • Nguồn gốc và khái niệm: Thuật ngữ thanh tra bắt nguồn từ tiếng Latinh (inspectorate - "nhìn vào bên trong"), phản ánh sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài của chủ thể có thẩm quyền. Khóa luận tiếp cận khái niệm thanh tra từ Từ điển Luật học Đức, Từ điển tiếng Việt, quan điểm của V.I. Lênin ("Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh tra là một chứ không phải là hai"), cũng như lịch sử thiết chế thanh tra Việt Nam từ thời phong kiến (chức Gián nghị đại phu thời Lý, Lê; cơ quan Ngự sử đài với chức Quan ngự sử thời Trần) đến Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Ban thanh tra đặc biệt.
  • Khái niệm thanh tra chuyên ngành: Trích dẫn theo Khoản 3 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010, xác định thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực đó.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật áp dụng:
    • Pháp luật về tổ chức và hoạt động thanh tra: Luật Thanh tra số 56/2010/QH12; Nghị định số 86/2011/NĐ-CP; Nghị định số 07/2012/NĐ-CP về thanh tra chuyên ngành; Nghị định số 97/2011/NĐ-CP và Nghị định số 92/2014/NĐ-CP về thanh tra viên và cộng tác viên; Nghị định số 173/2016/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Thông tư số 01/2014/TT-TTCP và Thông tư số 05/2014/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ; Thông tư số 01/2017/TT-BVHTTDL quy định chi tiết danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ thanh tra ngành.
    • Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính: Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định số 81/2013/NĐ-CP và Nghị định số 97/2017/NĐ-CP; Nghị định số 131/2013/NĐ-CP (quyền tác giả, quyền liên quan); Nghị định số 158/2013/NĐ-CP và Nghị định số 28/2017/NĐ-CP (văn hóa, thể thao, du lịch, quảng cáo); Nghị định số 46/2019/NĐ-CP (xử phạt trong lĩnh vực thể thao).
    • Pháp luật chuyên ngành: Luật Quảng cáo năm 2012; Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Luật Điện ảnh năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Luật Thư viện năm 2019; Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm 4 phương pháp:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng để mổ xẻ nội dung các văn bản quy phạm pháp luật, thẩm quyền, chức năng của các cơ quan thanh tra, phân tích các hành vi vi phạm và nguyên nhân của những tồn tại trong công tác thanh tra.
  • Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các quan điểm lý luận về thanh tra, liên kết các dữ liệu báo cáo để khái quát hóa bức tranh chung về thực trạng thi hành pháp luật.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại, lập bảng số liệu cụ thể về hệ thống di tích, phong trào thể dục thể thao quần chúng, bảng tổng hợp huy chương thể thao thành tích cao của Hải Phòng.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định pháp luật trên văn bản với thực tiễn áp dụng; so sánh sự phát triển phong trào và thành tích thể thao của Hải Phòng với các địa phương khác như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Thanh Hóa.

Nguồn dữ liệu: Báo cáo định kỳ và số liệu hành chính của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hải Phòng; văn bản của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (đặc biệt là Quyết định số 299/2017/QĐ-UBND); các đề tài, công trình khoa học chuyên ngành thanh tra của Thanh tra Chính phủ và Viện Khoa học Thanh tra.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao

Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận toàn diện về thiết chế thanh tra chuyên ngành và pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này:

  • Làm rõ khái niệm thanh tra, 3 đặc điểm bản chất (luôn gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước; mang tính quyền lực nhà nước; mang tính khách quan và độc lập tương đối) và 3 vai trò của thanh tra đối với quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế và mở rộng quyền dân chủ của nhân dân.
  • Phân tích thiết chế thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao:
    • Về chủ thể: Khác với một số ngành có cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành độc lập theo Nghị định số 07/2012/NĐ-CP, chủ thể thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao chỉ bao gồm cơ quan thanh tra nhà nước trong ngành (Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Thanh tra Sở Văn hóa và Thể thao) và thủ trưởng cơ quan quản lý khi cần thiết. Lực lượng thực hiện gồm thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra được trưng tập.
    • Về hình thức: Tiến hành theo 3 hình thức là thanh tra theo kế hoạch, thanh tra đột xuất và thanh tra thường xuyên; tổ chức theo đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên tiến hành thanh tra độc lập.
    • Về đối tượng: Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài hoạt động trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của ngành trên lãnh thổ Việt Nam.
    • 6 nguyên tắc hoạt động: (1) Tuân theo pháp luật; (2) Bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, trung thực, dân chủ, kịp thời; (3) Tuân thủ trình tự thanh tra; (4) Xác định đúng đối tượng, phạm vi, nội dung; (5) Sử dụng đúng quyền hạn; (6) Không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra.
    • Nội dung thanh tra: Quy định chi tiết theo Điều 12 và Điều 13 Nghị định số 173/2016/NĐ-CP, bao quát 10 nhóm lĩnh vực văn hóa - gia đình (di sản văn hóa vật thể, phi vật thể; điện ảnh; quyền tác giả và quyền liên quan; quảng cáo; thư viện; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm; xuất nhập khẩu văn hóa phẩm; lễ hội, vũ trường, karaoke, trò chơi điện tử; phòng chống bạo lực gia đình) và 5 nhóm lĩnh vực thể dục, thể thao (quần chúng; thành tích cao; chuyên nghiệp; cơ sở thể thao và điều kiện kinh doanh; hội và tổ chức phi chính phủ về thể thao).
  • Lý luận về pháp luật thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao: Khái niệm, 3 đặc điểm (mang đặc trưng ngành văn hóa thể thao với trang thiết bị chuyên dụng như thiết bị đo ồn, đo ánh sáng, đo nồng độ pH nước bể bơi theo Thông tư số 01/2017/TT-BVHTTDL; nguồn pháp luật rất đa dạng; chịu tác động của tiến trình hội nhập quốc tế theo các quy chuẩn của FIFA, AFC, IFAB...) và nội dung gồm 2 nhóm quy định: nhóm quy định về tổ chức bộ máy và nhóm quy định về hoạt động thanh tra.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao tại thành phố Hải Phòng

Chương 2 trình bày thực trạng hệ thống văn bản pháp luật, phân tích bối cảnh hoạt động ngành văn hóa - thể thao Hải Phòng giai đoạn 2016 - 2020 và tình hình triển khai công tác thanh tra:

  • Đánh giá hệ thống pháp luật: Hệ thống văn bản sau Luật Thanh tra năm 2010 đã tạo khuôn khổ thể chế thống nhất, phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước về thanh tra với thẩm quyền tiến hành thanh tra chuyên ngành. Tuy nhiên, các văn bản quy định xử phạt vi phạm hành chính bộc lộ hạn chế khi mức phạt tiền còn thấp, chưa đủ sức răn đe đối với các hành vi xâm phạm bản quyền, dịch vụ văn hóa trá hình.
  • Thực trạng hoạt động văn hóa và thể thao tại Hải Phòng (2016 - 2020):
    • Công tác di sản: Toàn thành phố có 1.133 di tích trong danh mục bảo tồn; 505 di tích được xếp hạng (chiếm 56% tổng số di tích), gồm 02 di tích quốc gia đặc biệt, 114 di tích quốc gia (13%), 389 di tích cấp thành phố (43%). Giai đoạn 2016 - 2020 công nhận mới 55 di tích; hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO đối với Quần đảo Cát Bà. Thành phố có 08 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn, lễ hội Nữ tướng Lê Chân, Lễ hội Minh Thề, Lễ hội vật Vĩnh Khê, lễ hội Xa Mã, Hát Đúm, Lễ hội Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nghệ thuật múa rối nước Nhân Hòa).
    • Đời sống văn hóa và thiết chế: Toàn thành phố có 499.787 hộ đạt chuẩn gia đình văn hóa (tỷ lệ 92%); 1.446 thôn, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa (70%); 100% thôn, tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước. Hệ thống thiết chế có 14 Trung tâm Văn hóa Thông tin - Thể thao quận, huyện; 186/217 xã, phường, thị trấn có Nhà văn hóa; 139 xã nông thôn mới hoàn thành tiêu chí văn hóa. Thư viện Khoa học Tổng hợp bổ sung 39.616 cuốn sách, số hóa 30.388 trang tài liệu số, cấp 26.920 thẻ bạn đọc; các đoàn nghệ thuật biểu diễn 4.312 buổi (bình quân 860 buổi/năm), doanh thu 15 tỷ đồng.
    • Phong trào thể dục thể thao quần chúng:
STT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2016 2017 2018 2019 2020
1 Tỷ lệ dân số tập luyện TDTT thường xuyên % 30,5 32,0 32,5 33,8 35,0
2 Tỷ lệ gia đình thể thao % 16,0 17,0 18,0 19,0 20,0
3 Số câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở CLB - - - - 2.660
4 Số giải thi đấu TDTT tổ chức hàng năm Giải 40 45 50 53 55
5 Tỷ lệ trường học dạy nội khóa đúng quy định % 100 100 100 100 100
6 Tỷ lệ trường tổ chức ngoại khóa chất lượng tốt % 82 83 84 87 90

Trong 2.660 câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở, hình thức công lập chiếm 24% (638 câu lạc bộ), ngoài công lập chiếm 76% (2.022 câu lạc bộ).

  • Thể thao thành tích cao: Giai đoạn 2016 - 2020, Hải Phòng tham gia 575 cuộc thi đấu, đạt tổng cộng 2.186 huy chương (149 huy chương quốc tế, 2.039 huy chương quốc gia). Tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ VIII năm 2018, đoàn Hải Phòng xếp hạng 9/65 tỉnh, thành, ngành, giành được 22 Huy chương Vàng, 22 Huy chương Bạc, 42 Huy chương Đồng, thiết lập 10 kỷ lục.
Năm Số cuộc thi đấu Huy chương Vàng Huy chương Bạc Huy chương Đồng Tổng số huy chương
2015 118 78 112 228 418
2016 120 97 109 254 460
2017 113 120 129 215 464
2018 134 103 114 267 484
2019 90 77 91 192 360
Giai đoạn 2016 - 2020 575 - - - 2.186
  • Tồn tại, hạn chế của ngành: Chậm thể chế hóa chỉ đạo của cấp trên; vi phạm bản quyền băng đĩa, dịch vụ văn hóa trá hình diễn ra phức tạp; cơ sở vật chất xuống cấp nghiêm trọng (Đoàn Kịch nói chưa có trụ sở và nhà hát riêng); diện tích đất cho thể thao toàn thành phố chỉ đạt 13% (chỉ 2 huyện Vĩnh Bảo và Tiên Lãng có đủ quỹ đất); thể thao thành tích cao thiếu hụt lực lượng vận động viên kế cận, chỉ đủ lực lượng tham gia 24/40 môn vô địch quốc gia; thiếu cơ chế thu hút tài năng; hoạt động năm 2020 đình trệ do dịch bệnh Covid-19.
  • Bộ máy quản lý nhà nước và Thanh tra Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng: Thành lập từ tháng 6/2016 (trên cơ sở chia tách từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) theo Quyết định số 299/2017/QĐ-UBND của UBND thành phố. Cơ cấu bộ máy gồm: Ban Giám đốc (Giám đốc và 02 Phó Giám đốc), 09 phòng chuyên môn nghiệp vụ (Văn phòng, Thanh tra, Phòng Tổ chức - Pháp chế, Phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Quản lý văn hóa, Phòng Quản lý di sản văn hóa, Phòng Xây dựng nếp sống văn hóa và Gia đình, Phòng Quản lý thể dục thể thao, Phòng Thể thao thành tích cao) và 16 đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Thanh tra Sở giữ vị trí nòng cốt trong kiểm tra, thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực phụ trách.

Chương 3: Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao

Trên cơ sở phân tích bất cập lý luận và thực tiễn tại Hải Phòng, khóa luận đề xuất 5 nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật chuyên ngành văn hóa và thể thao nói riêng: Rà soát, sửa đổi các nghị định xử phạt vi phạm hành chính theo hướng tăng mức phạt tiền; bổ sung quy định xử lý các vi phạm mới trên không gian mạng và môi trường số liên quan đến quyền tác giả, biểu diễn nghệ thuật và quảng cáo.
  2. Đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao: Tăng cường các cuộc thanh tra đột xuất và thanh tra thường xuyên; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa Thanh tra Sở với Công an thành phố, Quản lý thị trường và Ủy ban nhân dân các quận, huyện nhằm khắc phục sự chồng chéo, bỏ lọt đối tượng.
  3. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật: Nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao; công khai quy định chuyên môn, mức phạt để phòng ngừa vi phạm.
  4. Nâng cao chất lượng đội ngũ thanh tra chuyên ngành: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức giám định chuyên ngành, bản lĩnh chính trị và đạo đức công vụ cho đội ngũ thanh tra viên; xây dựng và quản lý hiệu quả mạng lưới cộng tác viên thanh tra.
  5. Đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động thanh tra: Đầu tư kinh phí trang bị đầy đủ phương tiện vận chuyển chuyên dùng và các thiết bị đo kiểm kỹ thuật chuyên ngành theo danh mục quy định tại Thông tư số 01/2017/TT-BVHTTDL (thiết bị đo cường độ ánh sáng, thiết bị đo độ ồn âm thanh, thiết bị đo nồng độ pH và tiêu chuẩn nước bể bơi).

Kết quả và đóng góp

  • Khóa luận làm rõ tính đặc thù của thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao: Toàn ngành không tổ chức cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành độc lập theo Nghị định số 07/2012/NĐ-CP, mà chức năng thanh tra chuyên ngành do chính cơ quan thanh tra nhà nước thuộc ngành (Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở) trực tiếp đảm nhiệm.
  • Cung cấp hệ thống số liệu cụ thể, phản ánh thực trạng phát triển sự nghiệp văn hóa, thể thao và hạ tầng quản lý tại Hải Phòng:
    • Quản lý di tích: 1.133 di tích trong danh mục, 505 di tích xếp hạng (02 cấp quốc gia đặc biệt, 114 cấp quốc gia, 389 cấp thành phố), 08 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
    • Hoạt động thiết chế: 14 Trung tâm VHTT quận/huyện, 186/217 xã phường có nhà văn hóa; 4.312 buổi diễn nghệ thuật chuyên nghiệp với doanh thu 15 tỷ đồng; Thư viện Khoa học Tổng hợp số hóa 30.388 trang tài liệu.
    • Thể dục thể thao: 2.660 câu lạc bộ cơ sở (76% ngoài công lập); tỷ lệ tập thường xuyên đạt 35%; thể thao thành tích cao đạt 2.186 huy chương giai đoạn 2016 - 2020.
  • Khóa luận phát hiện các điểm nghẽn thực tế tại địa phương: Quỹ đất thể thao đạt thấp (13%), thiếu nhà hát chuyên biệt cho Đoàn Kịch nói, mức phạt hành chính chưa đủ sức răn đe, và thiếu hụt trang thiết bị kỹ thuật kiểm tra (đo ồn, đo ánh sáng, kiểm tra nước bể bơi) theo Thông tư số 01/2017/TT-BVHTTDL.
  • Đề xuất hệ thống 5 giải pháp đồng bộ từ sửa đổi khung quy phạm pháp luật, đổi mới tổ chức thanh tra, đào tạo con người đến bảo đảm phương tiện kỹ thuật phục vụ tác nghiệp tại hiện trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận giới hạn phạm vi thời gian khảo sát thực tế trong giai đoạn 2018 - 2020; các đề xuất về mặt pháp luật chủ yếu căn cứ trên Luật Thanh tra năm 2010 và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 mà chưa kịp bao quát các điểm sửa đổi của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 và Luật Thanh tra năm 2022. Ngoài ra, số liệu thanh tra chuyên ngành trực tiếp bị gián đoạn một phần trong năm 2020 do tác động của các biện pháp phòng chống dịch Covid-19.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu tác động của Luật Thanh tra năm 2022 đối với mô hình tổ chức của Thanh tra Sở Văn hóa và Thể thao; mở rộng nghiên cứu cơ chế thanh tra các hành vi vi phạm quyền tác giả, biểu diễn nghệ thuật và quảng cáo thương mại trên nền tảng số và mạng xã hội.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hành chính, Quản lý nhà nước; cán bộ, công chức, thanh tra viên công tác tại Thanh tra Sở Văn hóa và Thể thao, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố; các cơ quan nghiên cứu về khoa học thanh tra và thực thi pháp luật văn hóa, thể thao.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng:
    • Phần phân tích lý luận về 6 nguyên tắc và nội dung thanh tra chuyên ngành theo Nghị định số 173/2016/NĐ-CP.
    • Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và mẫu phân tích cơ cấu tổ chức bộ máy Sở Văn hóa và Thể thao cấp tỉnh/thành phố theo Quyết định số 299/2017/QĐ-UBND.
    • Danh mục và giải pháp về việc trang bị phương tiện kỹ thuật chuyên ngành theo Thông tư số 01/2017/TT-BVHTTDL phục vụ kiểm tra thực địa.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận xác định chủ thể thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao bao gồm những cơ quan nào?

Theo Nghị định số 07/2012/NĐ-CP và Nghị định số 173/2016/NĐ-CP, chủ thể thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao là cơ quan thanh tra nhà nước thuộc ngành, gồm Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thanh tra Sở Văn hóa và Thể thao; không thiết lập cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành riêng biệt. Trong trường hợp cần thiết, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và thể thao sẽ ra quyết định thanh tra.

Danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ hoạt động thanh tra chuyên ngành được tác giả viện dẫn gồm những thiết bị gì?

Căn cứ Điều 4 Thông tư số 01/2017/TT-BVHTTDL, danh mục trang thiết bị chuyên dụng phục vụ thanh tra bao gồm: phương tiện vận chuyển chuyên dùng (xe ô tô, mô tô, xuồng, ca nô chuyên dùng); thiết bị đo cường độ ánh sáng; thiết bị đo cường độ âm thanh và đo độ ồn; thiết bị đo độ pH và kiểm tra tiêu chuẩn nước bể bơi.

Thực trạng di tích và di sản văn hóa phi vật thể tại Hải Phòng được thống kê cụ thể như thế nào trong khóa luận?

Hải Phòng có 1.133 di tích trong danh mục bảo tồn, 505 di tích đã xếp hạng (gồm 02 di tích quốc gia đặc biệt, 114 di tích cấp quốc gia, 389 di tích cấp thành phố). Giai đoạn 2016 - 2020 xếp hạng mới 55 di tích. Thành phố sở hữu 08 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia: Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn, lễ hội Nữ tướng Lê Chân, Lễ hội Minh Thề, Lễ hội vật Vĩnh Khê, lễ hội Xa Mã, Hát Đúm, Lễ hội Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nghệ thuật múa rối nước Nhân Hòa.

Cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng được quy định như thế nào theo văn bản tác giả trình bày?

Theo Quyết định số 299/2017/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, cơ cấu tổ chức của Sở gồm: Ban Giám đốc (Giám đốc và 02 Phó Giám đốc), 09 phòng chuyên môn nghiệp vụ (Văn phòng, Thanh tra, Phòng Tổ chức - Pháp chế, Phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Quản lý văn hóa, Phòng Quản lý di sản văn hóa, Phòng Xây dựng nếp sống văn hóa và Gia đình, Phòng Quản lý thể dục thể thao, Phòng Thể thao thành tích cao) và 16 đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

Khóa luận chỉ ra những hạn chế chính nào về cơ sở vật chất của ngành Văn hóa và Thể thao Hải Phòng?

Khóa luận chỉ ra các hạn chế cụ thể: Đoàn Kịch nói chưa có trụ sở làm việc và nhà hát riêng để tập luyện và biểu diễn; các nhà hát khác chưa đủ tiêu chuẩn biểu diễn quy mô lớn; thiếu cơ sở vật chất tập luyện cho vận động viên thành tích cao; diện tích đất dành cho công trình thể dục thể thao toàn thành phố chỉ đạt 13% (chỉ 2 huyện Tiên Lãng và Vĩnh Bảo đạt chỉ tiêu); cơ sở vật chất phục vụ thể thao cho người khuyết tật chưa đáp ứng yêu cầu.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đỗ Thị Lan Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thiết chế thanh tra chuyên ngành văn hóa và thể thao, khẳng định vai trò trọng yếu của công tác thanh tra trong việc giữ vững kỷ cương quản lý nhà nước. Tác giả đã phân tích toàn diện thực trạng hệ thống văn bản pháp luật cùng các dữ liệu thực tế tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018 - 2020, chỉ rõ những vướng mắc về chế tài xử phạt, tổ chức bộ máy và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ thanh tra. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi, đóng góp tư liệu nghiên cứu thiết thực cho hoạt động thanh tra ngành văn hóa và thể thao tại địa phương.