CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU TỪ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Khái quát về tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Mặc dù quan hệ mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ở nước ta đã hình thành từ những năm 1999, 2000 khi các công ty mua bán nợ chuyên nghiệp trực thuộc Vietcombank và Vietinbank chính thức được thành lập, tuy nhiên, vấn đề này chỉ thực sự nhận được sự quan tâm của các chuyên gia kinh tế và pháp lý kể từ thời điểm Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) được thành lập năm 2013 để giải quyết khối nợ xấu khổng lồ của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh những công trình nghiên cứu chuyên sâu, liên quan trực tiếp tới nội dung của luận án, có thể nhận thấy rằng, nợ xấu và mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD là đề tài nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở các góc độ tiếp cận khác nhau.
Mức độ quan tâm này ngày càng trở nên rõ nét từ sau năm 2013 trở lại đây, khi Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) được thành lập. Những công trình này đã cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc triển khai nghiên cứu đề tài như sau: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về nợ xấu – đối tượng của hoạt động mua bán: Trước tiên có thể kể tới luận án tiến sĩ kinh tế “Quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoài Phương, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2012. Có thể thấy rằng luận án đã hệ thống một số vấn đề lý luận về nợ xấu và quản lý nợ xấu tại các NHTM, bao gồm việc tìm hiểu các quan điểm khác nhau về nợ xấu, cách nhận biết, phân loại, đo lường cũng như quản lý nợ xấu. Cụ thể, thông qua việc tiếp cận các nguyên tắc của Hiệp ước Basel II trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng, tác giả đã chỉ ra được những chuẩn mực quốc tế trong việc đưa ra tiêu chí để xác định một khoản nợ được xếp vào nhóm nợ xấu.
Trên cơ sở đó, tác giả đã có sự vận dụng các nguyên tắc của Basel II LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 để so sánh với các tiêu chí phân loại các nhóm nợ ở Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành. Từ đó, tác giả nhấn mạnh về sự cần thiết phải sớm thể chế hóa các nguyên tắc cơ bản của Basel II vào việc phân loại nợ ở Việt Nam. Ngoài ra, thông qua việc thu thập và phân tích thực trạng nợ xấu tại 5 NHTM lớn ở Việt Nam (bao gồm: Agribank, Vietinbank, BIDV, VCB và ACB) giai đoạn 2005 – 2011, tác giả đã đi sâu tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao, cơ cấu nợ xấu tại các ngân hàng và các giải pháp quản lý nợ xấu đã được các ngân hàng này sử dụng nhằm giải quyết vấn đề nợ xấu. Qua đó, tác giả đã chỉ ra rằng mua bán nợ là một giải pháp quan trọng để giải quyết vấn đề nợ xấu vốn đã được sử dụng rất thành công tại các nước: Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan giai đoạn 1997 – 1999 nhưng không được các NHTM ở trong nước quan tâm thỏa đáng.
Trong bài viết “Giải quyết nợ xấu bằng hoạt động mua bán nợ: một số kinh nghiệm châu Á giai đoạn 1998-2004” của TS. Lê Thanh Tùng, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, Số 3+4 (372+373), năm 2013, thông qua việc nghiên cứu về cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực bắt nguồn từ Thái Lan năm 1997, sau đó lan sang các nước khác trong khu vực Đông Nam Á (Malaysia, Indonesia) và các nước Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc) đã đẩy tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng của các nước này lên cao gây ra những hệ lụy tiêu cực tới sự tồn tại an toàn của hệ thống ngân hàng và đời sống xã hội, bài viết đã tập trung tổng kết kinh nghiệm của một số quốc gia châu Á giai đoạn 1998 – 2004 trong giải quyết nợ xấu bằng hoạt động mua bán nợ. Qua các bài học kinh nghiệm trong việc xử lý nợ xấu của các công ty mua bán nợ quốc gia ở các nước bị khủng hoảng như TAMC ở Thái Lan; IBRA ở Indonesia; Danaharta ở Malaysia; Huarong, Cinda, Orient và Great Wall ở Trung Quốc; KAMCO ở Hàn Quốc, bài viết đã khẳng định, hoạt động mua bán nợ xấu là giải pháp quan trọng và hữu hiệu nhất để xử lý nhanh chóng và tận gốc vấn đề nợ xấu tăng cao trong hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, bài viết đã chỉ ra được các phương thức mua bán nợ xấu cơ bản đã được các công ty mua bán nợ quốc gia ở các nước sử dụng, đồng thời lý giải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 được những yếu tố về quan điểm chính trị, mục tiêu chính sách, thực trạng của thị trường đã tác động trực tiếp tới quyết định lựa chọn phương thức mua bán nợ xấu của các công ty này.
Chẳng hạn, TAMC, KAMCO mua nợ xấu theo giá trị thị trường, tức là có tính tới mức độ rủi ro và khả năng thu hồi vốn thực tế khi mua nợ xấu của các ngân hàng, trong khi bốn công ty mua bán nợ quốc gia của Trung Quốc vì mục tiêu bơm vốn cho bốn ngân hàng quốc doanh nên mua nợ xấu theo giá trị sổ sách, tức là bằng 100% giá trị ghi sổ của khoản nợ, không tính tới mức độ rủi ro và khả năng thu hồi vốn thực tế của khoản nợ. Trên cơ sở đó, bài viết đã phân tích được những ưu điểm và hạn chế của mỗi phương thức mua bán nợ đã được áp dụng ở các nước, làm bài học kinh nghiệm trong giải quyết nợ xấu ở Việt Nam hiện nay. Cùng với đó, trong nội dung của bài viết “Nợ xấu của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam: nguyên nhân và một số giải pháp” của ThS. Nguyễn Thị Thanh Tú, Nguyễn Hồng Nhung, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, Số 3+4 (372+373), năm 2013, hai tác giả đã phân tích được khá sắc nét khái niệm nợ xấu phát sinh trong hoạt động của các TCTD dưới góc độ kinh tế và pháp lý.
Đồng thời thông qua những so sánh về phương pháp định tính và định lượng trong việc phân loại nợ ở Việt Nam với phương pháp phân loại nợ của Ủy ban Basel II, Ngân hàng trung ương Châu Âu ECB, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, hai tác giả đã chỉ ra được sự tương đồng nhất định và xu hướng hội nhập của NHNN trong quyết tâm đưa các chuẩn mực quốc tế vào việc phân loại nợ ở Việt Nam. Ngoài ra, hai tác giả cũng đã chỉ ra được nguyên nhân hình thành nợ xấu trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam thời gian qua bắt nguồn tổng thể từ những nguyên nhân khách quan từ sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tác động tiêu cực tới nền kinh tế trong nước và những nguyên nhân chủ quan xuất phát trực tiếp từ những khoản cho vay dưới chuẩn tập trung nhiều vào mảng cho vay và thế chấp bằng bất động sản. Trên cơ sở đó, bài viết đã đưa ra được một số giải pháp quan trọng nhằm giải quyết tình trạng nợ xấu hiện nay, từ yêu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan cho tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng, trong đó, mua bán các khoản nợ xấu giữa các TCTD được nhìn nhận như một giải pháp hữu hiệu có thể hướng tới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Thứ hai, các công trình nghiên cứu về các chủ thể của hoạt động mua bán nợ xấu: Trong bài viết “Hiện trạng thị trường mua bán nợ Việt Nam và chính sách phát triển” của tác giả Đào Duy Huân, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 8(18), năm 2013, tác giả đã chứng minh được tính tất yếu khách quan của hoạt động mua bán nợ phát sinh từ hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng, đồng thời coi đó là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự hình thành thị trường mua bán nợ ở Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích về thực trạng của thị trường, tác giả chỉ ra những vấn đề cần được giải quyết khi hướng tới xây dựng thị trường mua bán nợ thông qua vai trò trung tâm của công ty mua bán nợ trực thuộc NHNN, đó là: công ty mua bán nợ khi mua nợ xấu của NHTM chỉ làm giảm tỷ lệ nợ xấu trên sổ sách chứ không thực sự xóa bỏ được nợ xấu; công ty mua bán nợ sẽ làm gì khi tiếp nhận các khoản nợ xấu từ các TCTD và trở thành chủ sở hữu của khoản nợ xấu; công ty mua bán nợ sau khi mua nợ xấu có tiếp tục bán lại cho các công ty có nhu cầu hay tự mình xử lý các khoản nợ xấu đó. Đây là những vấn đề rõ ràng mang tính thời sự đến thời điểm hiện nay, vì mặc dù VAMC đã đi vào hoạt động một thời gian nhưng hiệu quả hoạt động vẫn là một dấu hỏi khi chưa giải quyết được những yêu cầu, đòi hỏi then chốt trên. Trên cơ sở các số liệu thống kê được về tỷ lệ nợ xấu và tổng giá trị nợ xấu của hệ thống ngân hàng, bài viết đã chứng minh sự tồn tại của công ty mua bán nợ trực thuộc Bộ Tài chính (DATC) và công ty mua bán nợ và khai thác tài sản trực thuộc các NHTM (AMC) không phát huy hiệu quả khi quy mô vốn của các chủ thể này quá nhỏ bé so với khối nợ xấu khổng lồ của hệ thống TCTD và phạm vi hoạt động bị bó hẹp trong giới hạn nhất định, như DATC bị giới hạn khi chỉ được mua các khoản nợ xấu của các NHTMNN và NHTMCP do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, còn các AMC bị hạn chế khi chỉ giải quyết được các khoản nợ xấu trong hệ thống, ít có khả năng tiếp cận các khoản nợ xấu của các TCTD khác. Với ThS Đào Thị Hồ Hương, trong bài viết “Bàn về hướng xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng, số 4, năm 2013, dưới góc độ lý luận về xử lý nợ từ hoạt động cho vay của các TCTD, tác giả có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.