CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá 1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hoá Dưới góc nhìn của LTM 2005, mua bán hàng hoá được quy định là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận. Như vậy, mua bán hàng hoá được hiểu là việc trao đổi hàng hoá giữa bên có hàng hoá và bên có nhu cầu mua hàng hoá trên cơ sở tự nguyện, thoả thuận ý chí giữa các bên. Việc mua bán hàng hoá này được thực hiện dưới hình thức hợp đồng và được gọi là hợp đồng mua bán hàng hoá. Hiện nay, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu thể hiện bằng các loại hợp đồng bởi hợp đồng chính là công cụ pháp lý quan trọng để họ thiết lập và thực hiện các giao dịch nhằm thoả mãn hầu hết mọi nhu cầu trong đời sống xã hội.
Cụ thể khái niệm về hợp đồng nói chung đã được đề cập trong BLDS 2015. Tại Điều 385 của BLDS 2015 đưa ra khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia thoả thuận.” Nghĩa là hợp đồng được xây dựng dựa trên sự thoả thuận tự nguyện của các chủ thể đồng thời trên căn cứ thoả thuận sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết. Cũng trong BLDS 2015 tại Điều 430 đã đưa ra khái niệm cụ thể về hợp đồng mua bán tài sản: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán” Như vậy có thể thấy, mua bán hàng hoá thực chất là một dạng của mua bán tài sản nên có bản chất giống như mua bán tài sản theo quy định của BLDS. Đó đều là việc bên bán chuyển quyền sở hữu hàng hoá/tài sản cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có quyền sở hữu đối với hàng hoá/tài sản đã mua và có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán.
Không những vậy, mua bán hàng hoá và mua bán tài sản đều thể hiện thông qua hình thức hợp đồng. LTM 2005 không đề cập tới khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hoá , do đó căn cứ vào khái niệm hợp đồng trong BLDS 2015 và khái niệm mua bán hàng hoá trong LTM 2005 nói trên, ta có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả thuận giữa các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận. Hợp đồng này 11 Luan van phải thoả mãn về hình thức được quy định tại Khoản 1 Điều 24 LTM 2005 và phải thoả mãn về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá. Đó là hàng hoá được phép mua bán theo quy định của pháp luật.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá Hợp đồng mua bán hàng hoá vừa có bản chất chung của hợp đồng trong BLDS lại vừa mang trong mình những đặc điểm riêng để phân biệt với các loại hợp đồng khác.
Hợp đồng mua bán hàng hoá có các đặc điểm như sau: Xét về đặc điểm chung, hợp đồng mua bán hàng hoá có sự thỏa thuận giữa các bên. Sự thỏa thuận phải thể hiện sự tự nguyện thiện chí và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia mới có thể hình thành hợp đồng, nếu chỉ là ý chí của một bên thì đó hành vi pháp lý đơn phương. Các bên tự do trong việc thể hiện ý chí của mình, hướng đến lợi ích của các bên đồng thời không xâm phạm lợi ích chính đáng mà pháp luật cần bảo vệ. Đồng thời, hợp đồng mua bán hàng hoá còn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý: xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ mua bán.
Cụ thể là bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản/hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán và có quyền sở hữu đối với tài sản/hàng hoá đã mua. Xét về đặc điểm riêng, hợp đồng mua bán hàng hoá mang những đặc trưng sau: Thứ nhất về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hoá chủ yếu được thiết lập giữa các thương nhân. Một bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá phải là thương nhân. Chủ thể còn lại của hợp đồng mua bán hàng hoá là thương nhân hoặc có thể không phải là thương nhân.
Thương nhân có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài. Tuy nhiên theo quy định của LTM 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập và có đăng kí kinh doanh. Để thực hiện hoạt động thương mại, thương nhân cần đáp ứng những yêu cầu nhất định về vốn, tư cách pháp lý và một số điều kiện nghề nghiệp để triển khai hoạt động thương mại thường xuyên, độc lập trên thị trường. Thứ hai về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá chính là hàng hoá.
Dưới góc độ thông thường, hàng hoá là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi và mua bán nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người. Hàng hoá dưới góc độ của LTM 2005 có xu hướng mở rộng hơn đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai. Điểm khác biệt nhất định của hàng hoá trong hợp đồng mua bán hàng hoá được nhắc tới ở đây chính là hàng hoá phải được phép giao dịch, không nằm trong đối tượng hàng hoá bị cấm theo quy định của pháp luật. Điều 25 của LTM 2005 đã quy định rõ về hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh 12 Luan van doanh có điều kiện.
Dựa vào đó để xác định đúng đối tượng của loại hợp đồng này. Hàng hoá được mua bán trao đổi có thể là hàng hoá đang hiện hữu hoặc có thể là hàng hoá sẽ hình thành trong tương lai được phép lưu thông trên thị trường. Mỗi đối tượng đều có hình thức trao đổi khác nhau song vẫn phải tuân theo nguyên tắc chung trong hợp đồng mua bán hàng hoá. Thứ ba về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá.
Hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong đó có bên mua và bên bán trong quan hệ mua bán. Cụ thể là bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán. Ngược lại, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận. Nội dung của hợp đồng chứa đựng các điều khoản được ghi nhận trong hợp đồng thông thường bao gồm các điều khoản: Tên hàng, số lượng, chất lượng/phẩm chất, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao hàng ….
Ngoài ra, các bên còn có thể thỏa thuận về các điều khoản khác của hợp đồng để đảm bảo quyền lợi cho các bên nếu có tranh chấp xảy ra như: nơi giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, số lượng điều khoản, loại điều khoản không phải là điều kiện để vô hiệu hợp đồng. Các điều khoản của hợp đồng phải phù hợp với pháp luật, điều khoản nào mà trái pháp luật thì điều khoản đó sẽ vô hiệu. Nói cách khác, nội dung hợp đồng không thể là điều kiện để hợp đồng vô hiệu toàn phần.
Mặt khác cần chú ý, do loại hợp đồng này có đặc điểm là các bên đều nhằm đến mục tiêu lợi nhuận nên đòi hỏi nội dung của hợp đồng phải đầy đủ, rõ ràng, tránh những hiểu lầm dẫn đến tranh chấp. Vì vậy, các bên cần chú ý thận trọng trong quá trình soạn thảo nội dung của hợp đồng. Thứ tư về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá phải được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể của các chủ thể tham gia hợp đồng. Về nguyên tắc, các bên được tự do lựa chọn hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá tuy nhiên trong một số trường hợp ngoại lệ, đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì bắt buộc các bên giao kết phải tuân theo quy định đó.
Nói cách khác, điều kiện về hình thức của hợp đồng chỉ áp dụng cho một số loại hợp đồng mà pháp luật quy định cụ thể về hình thức chứ không phải áp dụng cho tất cả các hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là một ví dụ điển hình nhất, hợp đồng này phải được thực hiện trên cơ sở văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. LTM 2005 quy định đa dạng về các hình thức thể hiện của hợp đồng mua bán hàng hoá nhưng các bên nên kí kết hợp đồng bằng văn bản. Bởi vậy mà ngày này các doanh nghiệp thường ưu tiên ký kết hợp đồng văn bản bằng hình thức văn bản bởi việc giao kết hợp đồng dưới hình thức này mang tính đảm bảo cao và ít gặp rủi ro trong kinh doanh hơn so với 13 Luan van các hình thức khác.
Đây chính là cơ sở pháp lí rõ ràng để các bên xem xét thực hiện đúng, đầy đủ hợp đồng hay không đồng thời cũng là căn cứ pháp lí để cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đó. Thứ năm, hành vi của các chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa có tính chất hành vi thương mại. Đặc biệt, trong quan hệ này, có ít nhất một trong các bên tham gia hợp đồng hướng tới mục đích tìm kiếm và tạo ra lợi nhuận từ việc mua bán hàng hoá hay còn gọi là nhằm mục đích sinh lời. Mục đích của hợp đồng mua bán hàng hoá chính là đặc điểm quan trọng nhất giúp phân biệt hợp đồng mua bán hàng hoá với các loại hợp đồng dân sự khác.