CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động Theo nghĩa chung, an toàn lao động, vệ sinh lao động là các hoạt động đồng bộ trên các phương diện pháp lý, tổ chức quản lý, kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ nhằm cải thiện điều kiện lao động, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo vệ tính mạng và sức khoẻ cho con người trong lao động. Theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2016 thì khái niệm an toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động, còn vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động.
ATLĐ và VSLĐ là những chế định quan trọng của pháp luật lao động bao gồm những quy phạm pháp luật quy định việc đảm bảo ATLĐ, VSLĐ nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động, đồng thời duy trì tốt khả năng làm việc lâu dài của người lao động. Bởi lẽ, ATLĐ không tốt thì sẽ gây ra tai nạn lao động, VSLĐ không tốt thì sẽ gây ra bệnh nghề nghiệp. Trước đây, ATLĐ, VSLĐ là một bộ phận trong chế định bảo hộ lao động - là những quy định của Nhà nước liên quan đến ATLĐ, VSLĐ và các chế độ, thể lệ bảo hộ lao động khác. Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa này thì bảo hộ lao động có nghĩa quá rộng và khó phân biệt với nhiều vấn đề khác của pháp luật lao động, có chức năng chung là bảo vệ người lao động.
Khi đó tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, bảo hiểm lao động. đều thuộc phạm trù “bảo hộ lao động”. Nếu dùng khái niệm “bảo hộ lao động” với nghĩa hẹp, chỉ bao gồm những quy định ATLĐ và VSLĐ thì không tương xứng với khái niệm này. Chính vì vậy, tại Chương IX Bộ Luật lao động 2012 sử dụng tiêu đề ATLĐ và VSLĐ.
Như vậy, các quy định tại Chương IX của BLLĐ 2012 chủ yếu đề LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cập đến an toàn, vệ sinh lao động. Tuy nhiên, ATLĐ, VSLĐ và bảo hộ lao động có quan hệ mật thiết với nhau, do đó trong một chừng mực nhất định khi phân tích những vấn đề về ATLĐ và VSLĐ thì vấn đề bảo hộ lao động cũng sẽ được đề cập. Dưới góc độ pháp lý, ATLĐ và VSLĐ là tổng hợp những quy phạm pháp luật quy định các biện pháp bảo đảm ATLĐ và VSLĐ nhằm ngăn ngừa TNLĐ, BNN và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động. Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của pháp luật về ATLĐ và VSLĐ như sau: Thứ nhất, pháp luật về ATLĐ và VSLĐ bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ liên quan đến ATLĐ, VSLĐ.
Đây là khung pháp lý quan trọng trong việc hướng dẫn, bắt buộc các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân phải tuân thủ nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của doanh nghiệp, Nhà nước và Nhân dân. Khác biệt với quy định pháp luật trên các lĩnh vực khác, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động có tính chất quyền uy và phục tùng, được quy định chặt chẽ và phải thực hiện nghiêm. Vì nếu không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ sẽ dẫn đến nguy cơ TNLĐ, BNN. Nội dung quy phạm ATVSLĐ không có sự thỏa thuận hay tính bình đẳng mà chỉ có thuộc tính bắt buột hay nghĩa vụ thực hiện.
Bởi vì các quy định này liên quan trực tiếp đến sức khỏe, thể lực và sinh mạng con người, liên quan rất nhiều đến trình tự và thủ tục phức tạp buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt, trong quá trình áp dụng không thể thay đổi nếu không hậu quả xảy ra sẽ khó lường. Trong việc thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật không được phép lơ là, châm chước trong bất kỳ thủ tục và giai đoạn nào, pháp luật về ATVSLĐ còn chịu sự tác động rất lớn của các văn bản của nhiều cơ quan và các lĩnh vực khác nhau. Vì ở lĩnh vực nào có sản xuất, kinh doanh, có lao động thì ở đó có nguy cơ mất ATVSLĐ, cho nên các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải có các quy định riêng cho từng lĩnh vực, nhằm đảm bảo ATVSLĐ cho lĩnh vực mà ngành mình phụ trách. Do tính đặc thù của ATVSLĐ mà phạm vi điều chỉnh rất rộng, phủ kín toàn bộ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cả trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nước và nước ngoài, các trang trại, trong nông nghiệp, trong các cơ quan hành chính Nhà nước có sử dụng người lao động.
Thứ hai, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về ATVSLĐ rất phong phú bao gồm mọi người lao động có giao kết hay không giao kết hợp đồng lao động đang làm việc trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, pháp luật về ATVSLĐ có tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội và các cá nhân có liên quan đều phải thực hiện. Pháp luật về ATVSLĐ có vị trí quan trọng trong các chính sách của Nhà nước. Do các quy định về ATVSLĐ có tính phòng ngừa cao, nếu vi phạm các quy định này sẽ dẫn đến chết người, mất của, sự thiệt hại cả vật chất và tinh thần là vô cùng lớn, vì thế, các quy định về ATVSLĐ phải chặt chẽ và phải được đảm bảo thực hiện, không để xảy ra mất an toàn.
Trong pháp luật ATVSLĐ thì tính phòng ngừa có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì sự phòng ngừa càng tốt bao nhiêu, càng chuẩn bị kỹ bao nhiêu thì hiệu quả của ATVSLĐ càng tốt bấy nhiêu và ngược lại, nếu các biện pháp phòng ngừa không được quan tâm chuẩn bị kỹ lưỡng hoặc chuẩn bị sơ sài sẽ gây mất ATVSLĐ, dẫn đến hậu quả thiệt hại về người và tài sản và sự trả giá là không đo đếm được. Do vậy, tính phòng ngừa là một trong những đặc điểm riêng có của pháp luật về ATVSLĐ. Thứ ba, do tính phòng ngừa quan trọng nên các quy định về ATVSLĐ phải tính đến các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng, tác động đến điều kiện lao động trước khi hoạt động, những đối tượng liên quan có trách nhiệm phải chuẩn bị và phải có kế hoạch chu đáo. Pháp luật về ATVSLĐ có tính quần chúng, chỉ khi quần chúng lao động, mọi người lao động và người sử dụng lao động nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác ATVSLĐ và tự giác thực hiện thì mới đạt hiệu quả.
Bởi vì người lao động là những người trực tiếp thực hiện quy phạm, quy chuẩn kỹ thuật và các biện pháp kỹ thuật an toàn, tự mình gánh chịu hậu quả nếu vi phạm và cũng tự mình phát hiện sự cố, sai sót trong quy định để đề xuất cách thức cải tiến kỹ thuật, biện pháp an toàn. Vì vậy chỉ khi chính người lao động tự giác thực hiện thì yếu tố phòng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 ngừa mới đạt hiệu quả. Nếu quần chúng lao động chỉ biết thực hiện mang tính bị động theo mệnh lệnh, theo pháp luật thì hiệu quả không cao. Vai trò của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Công tác ATVSLĐ là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, pháp luật, tổ chức, hành chính, kinh tế - xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và yếu tố có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên một điều kiện lao động tiện nghi, thuận lợi và môi trường lao động ngày càng được cải thiện tốt hơn để ngăn ngừa TNLĐ và BNN, hạn chế ốm đau và giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khoẻ và tính mạng người lao động, trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động và bảo vệ môi trường.
Vì vậy pháp luật ATVSLĐ có những vai trò sau: Thứ nhất, tạo khung pháp lý để các cơ quan quản lý Nhà nước về ATVSLĐ thực hiện các chức năng quản lý để tạo ra môi trường lao động an toàn, đồng thời cũng tạo khung pháp lý để các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình về ATVSLĐ một cách tự nguyện và bình đẳng. Thứ hai, pháp luật về ATVSLĐ thể chế hóa, triển khai những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về an toàn lao động một cách kịp thời, đồng bộ, rộng khắp với quy mô cả nước, là công cụ quản lý Nhà nước về an toàn lao động. Để có môi trường làm việc đảm bảo an toàn, trước hết người sử dụng lao động phải đầu tư, thực hiện nhiều hành vi, chi phí tốn kém cả về vật chất và tinh thần. Điều đó cho thấy người sử dụng lao động tự nguyện, thoải mái thực hiện tạo ra điều kiện lao động đảm bảo an toàn lao động là không dễ, vì vậy Nhà nước phải có biện pháp bắt buộc người sử dụng lao động phải thực hiện, khi đó pháp luật về ATVSLĐ là công cụ thực hiện chức năng quản lý.
Khi xảy ra sự cố, mất an toàn, thiệt hại về người và tài sản mà không có sự can thiệp của cơ quan công quyền thì việc giải quyết hậu quả rất khó khăn, hơn nữa pháp luật về ATVSLĐ lại thể hiện chức năng can thiệp, yêu cầu các chủ thể thực hiện nghĩa vụ theo quy định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Thứ ba, pháp luật về ATVSLĐ thể hiện vai trò bảo vệ lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động, bảo vệ lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia và bảo vệ tính mạng, tài sản của các chủ thể. Thứ tư, pháp luật ATVSLĐ giúp Nhà nước kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và tất cả người lao động thực hiện công tác về ATVSLĐ. Thứ năm, pháp luật ATVSLĐ còn đóng vai trò to lớn cho xã hội, góp phần không nhỏ trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, đó là lợi ích kinh tế.