Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở của nghiên cứu 1. Giới thiệu về loài Trà hoa vàng Hakoda a) Nguồn gốc, vị trí, phân loại loài Trà hoa vàng Hakoda Trà hoa vàng Hakoda là loài đặc hữu của Việt Nam và mới chỉ tìm thấy ở Vườn Quốc gia Tam Đảo, Thái Nguyên, thuộc bộ Thạch nam (Ericales), họ Chè (Theaceae), chi Trà (Camellia) là một chi thực vật hạt kín (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [20]. b) Đặc điểm của loài Trà hoa vàng Hakoda * Đặc điểm thực vật học Trà hoa vàng Hakoda là loài cây gỗ nhỏ, cao 3- 4m.
Cành non màu nâu nhạt, lá có cuống dài 8- 15 mm, xanh đậm và láng ở mặt trên, xanh sáng ở mặt dưới với nhiều điểm tuyến màu đen, cả hai mặt đều không lông, lá dạng da, dày, gốc lá hình nêm hoặc tròn, chóp lá có mũi nhọn, mép lá có răng cưa nhỏ cách đều nhau, hệ gân lõm ở mặt trên và nổi rõ ở mặt dưới, gân bên 12-16 cặp. Hoa màu vàng, mọc ở đầu cành hoặc nách lá, đường kính khi nở khoảng 6-8 cm. Cuống hoa dài 1-1,2 cm, mang 5-6 lá bắc hình móng hoặc hình vẩy đến gần tròn, cao 4-6 mm, rộng 7-12 mm, mép và mặt trong có lông. Tràng hoa gồm 16-17 cánh, gần tròn đến bầu dục, dài 2-5,3 cm, rộng 2,3-3,5 cm, có lông ở mặt trong và thưa dần ở các cánh bên trong.
Bộ nhị nhiều, cao 4-4,5 cm, các chỉ nhị vòng ngoài, dính nhau 1,4-2,1 cm, chỉ nhị bên trong rời, có lông. Bộ nhụy gồm 4 hoặc 5 lá noãn hợp thành bầu 4-5 ô, không lông, vòi nhụy 4 hoặc 5, rời, dài 3,2-3,5 cm, không lông. Quả gần dạng cầu, đường kính 5-6 cm, cao 4-4,5 cm, 3-4 hạt trong mỗi ô, vỏ quả dày 4,5-6,5 mm. Hạt dài 2,2 cm, có lông (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [20] (Hình 1.
n 5 a) Cây con b) Cây trưởng thành c) Cành mang lá d) Cành man d) Cành mang hoa đ) Quả và hạt Hình 1.1: Trà hoa vàng Hakoda (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [20] * Yêu cầu ngoại cảnh đối với Trà hoa vàng Hakoda Cây Trà hoa vàng Hakoda sống trong điều kiện có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa mưa và mùa khô phân biệt rõ rệt thường mọc trong những thung lũng ẩm ướt trong rừng nhiệt đới ở độ cao 150m - 500 m. Nhiệt độ không khí bình quân năm là 23,50C, độ ẩm không khí trung bình là 81%. Lượng mưa trung bình năm là 1526 mm. Thích hợp với Feralit phát triển trên đá mẹ Macmaxit kết n 6 tinh chua, đất hơi chua.
Trà hoa vàng Hakoda ra hoa từ đầu mùa Đông cho tới đầu Xuân. Khả năng tái sinh hạt kém, thụ phấn nhờ gió và côn trùng. Song khả năng tái sinh chồi rất mạnh, điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhân giống sinh dưỡng (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [20]. Khái niệm tái sinh rừng Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng.
Đó là sự xuất hiện các thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như dưới tán rừng, khoảng trống trong rừng, trên đất rừng sau khi khai thác hoặc sau khi làm nương rẫy, các cây con sẽ thay thế cây già cỗi. Theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Theo nghĩa rộng, tái sinh rừng là sự tái sinh nhằm đảm bảo cho sự tồn tại liên tục của một hệ sinh thái rừng (Nguyễn Anh Dũng, 2000) [5]. Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [15], tái sinh được coi là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng.