CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Điều kiện tự nhiên vùng thu mẫu – VQG Phú Quốc (Kiên Giang) 1. Vị trí địa lý 1. Vị trí - VQG Phú Quốc nắm ở phía Bắc của đảo phú quốc, có địa giới hành chính nằm trên 6 xã: Cửa Dương, Cửa Cạn, Bãi thơm, Gành Dầu, Hàm Ninh và một phần của xã Dương Tơ thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Tọa độ địa lý - Từ 10012’07” đến 10027’02” vĩ độ Bắc - Từ 103050’04” đến 104004’40” kinh độ Đông 1. Phạm vi ranh giới - Phía Bắc, Đông và tây giáp với biển Đông. - Phía Nam và Đông Nam giáp xã Cửa Dương và Hàm Ninh 1. Diện tích - Tổng diện tích tự nhiên VQG Phú Quốc là 29.
Trong đó: + Phân khu phục hồi nghiêm ngặt: 8. + Phân khu phục hồi sinh thái: 20. + Phân khu hành chính dịch vụ: 33,0 ha. Bản đồ đảo Phú Quốc [14] 1.
Địa hình + VQG Phú Quốc nằm ở phía Bắc đảo chính của Phú Quốc với những đồi núi cao 8 thuộc 3 dãy núi Hàm Ninh, Hàm Rồng và Gành Dầu. Phía Đông và Đông Bắc có các đỉnh núi cao là Núi Chúa (603 m), núi Gò Quập (478 m), núi Đá Bạc (448 m) của dãy núi Hàm Ninh. Các dãy núi này phần lớn có độ dốc > 450. Phía Bắc bị chế ngự bởi dãy Bãi Đại với độ cao 200 – 250 m gồm núi Chảo (379 m), núi Hàm Rồng (365 m).
+ Nhìn chung, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, có những vùng trũng tạo thành những “lung” như vùng Bãi Thơm, Cửa Cạn ngập nước vào mùa mưa [7]. Địa chất - Theo tài liệu địa chất của Viện Địa Lý Việt Nam, Phú Quốc có nền địa chất sa thạch là chủ yếu, mảng địa chất nầy có liên hệ với nền địa chất của Campuchia thuộc phía Tây Nam của vùng Kompong Som, Kok Kong, B. Kong Pot do trầm tích mảnh vỡ từ Trường Sơn đưa về (Trần Kim Thạch, 1983). Do đó, sự phân hủy của loại đá này tạo ra loại đất có thành phần cơ giới cát là chủ yếu.
Một đặc điểm nữa của loại đá trầm tích này là do kết cấu bình hàng nên khả năng giữ nước kém khi đá bị bào mòn theo hông. Thổ nhưỡng - Theo kết quả điều tra và xây dựng bản đồ đất huyện Phú Quốc năm 2012, của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam và Trung tâm nghiên cứu Rừng và Đất ngập nước. VQG Phú Quốc được chia ra 4 nhóm đất: Nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất xám và nhóm đất đỏ vàng. Nhóm đất cát: Được chia ra 2 đơn vị chú dẫn bản đồ như sau: - Đất cát biển trắng vàng (C): Phân bố thành các giải kéo dài song song với đường bờ biển, tập trung nhiều ở các xã Gành Dầu, Hàm Ninh, Cửa Dương, Bãi Thơm, Cửa Cạn.
Đất có thành phần cơ giới thô, thay đổi từ cát đến cát pha. Hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp. Tuy lượng dinh dưỡng thấp song độc tố trong đất cát hầu như không có. Mặt khác, đất được phân bố ở địa hình khá bằng phẳng, thành phần cơ giới nhẹ, độ xốp cao, khả năng thoát nước nhanh, dễ cải tạo để canh tác cây nông nghiệp.
(Chiếm 8% diện tích) - Đất cát có tầng mặt giàu mùn (Ch): Phân bố ở các khu vực có địa hình thấp, tập trung nhiều ở các xã Hàm Ninh, Bãi Thơm, Cửa Cạn, Cửa Dương. Đất có thành phần cơ giới mịn hơn và một số yếu tố dinh dưỡng như mùn, đạm và kali cao hơn so với đất cát trắng. Tuy nhiên, lại bị hạn chế bởi địa hình thấp trũng và thường bị ngập nước vào mùa mưa. Do vậy, loại đất này thích hợp cho các loài cây chịu ngập như Tràm.
Nhóm đất phù sa: Nhóm đất phù sa chỉ có một đơn vị chú dẫn bản đồ là Đất phù sa gley (Pg): Phân bố ở xã Cửa Dương và Cửa Cạn. Thực chất đây là một đơn vị đất có nguồn gốc hỗn hợp từ những trầm tích biển, phù sa sông suối và có cả sản phẩm dốc tụ. Đặc điểm chung của chúng là có thành phần cơ giới mịn, từ thịt nhẹ đến thịt trung bình. Do phân bố ở địa hình thấp trũng nên loại đất này giàu mùn, giàu đạm, kali khá.
Nhóm đất xám: Gồm 2 đơn vị chú dẫn bản đồ sau: - Đất xám trên đá mác ma axit và đá cát (Xa): Phân bố ở các xã Gành Dầu, Cửa Dương, Hàm Ninh, Dương Tơ và Bãi Thơm. Phần lớn đất xám ở VQG Phú Quốc có tầng dày trên 100 cm (khoảng 14 % diện tích), phần còn lại có tầng mỏng hơn do bị hạn chế bởi tỷ lệ đá lẫn cao trong khoảng độ sâu 50 – 100 cm. - Đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng (Xf): Phân bố ở các xã Bãi Thơm, Gành Dầu, Dương Tơ, Cửa Cạn, Cửa Dương, được hình thành từ sản phẩm phong hóa của đá cát, lại phân bố ở địa hình tương đối thấp, nên tầng mặt đất có hàm lượng dinh dưỡng mùn, đạm và kali khá giầu. Nhóm đất đỏ vàng: Có một đơn vị chú dẫn bản đồ là Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq), Phân bố rải rác ở VQG Phú Quốc.
Khác với các loại đất cát, đất phù sa và đất xám, phần lớn đất Fq có tầng đất hữu hiệu mỏng và thường có đá lộ đầu ở các mức độ khác nhau. Đất Fq có thành phần cơ giới nhẹ, từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, dinh dưỡng đa lượng ở mức độ trung bình. Bản đồ đất vùng phân bố các lòai Sim VQG Phú Quốc Nguồn: Trung tâm nghiên cứu rừng và đất ngập nước, năm 2012 1. Khí hậu – thời tiết - Đảo Phú Quốc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất xích đạo, nhưng bị chi phối bởi các quy luật của biển: + Nhiệt độ trung bình: 27,10C + Tháng có nóng nhất (IV): 28,30C + Tháng có nhiệt độ thấp nhất (I): 250C + Trong năm có 2.445 giờ nắng, trung bình 6,7 giờ/ngày, khá thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp + Lượng mưa trung bình: 3.037 mm, phân bố theo mùa rõ rệt, trong đó: - Mùa mưa kéo dài hơn các huyện khác trong tỉnh và toàn ĐBSCL (8 tháng – từ tháng 5 đến tháng 10) và chiếm 90% lượng mưa cả năm.
Trong các tháng mưa nhiều thường ảnh hưởng đến kinh doanh du lịch và gây tình trạng ngập cục bộ ở các khu vực trũng. - Ngược lại, trong các tháng mùa khô (11 – 4 năm sau), do lượng mưa không đáng kể (chỉ chiếm 10% lượng mưa năm) đã gây tình trạng khô hạn cho cây trồng và thiếu nước cho 11 sinh hoạt ở một số khu vực. + Tốc độ gió trung bình: 3,9 m/s; Có hai hướng gió chính thay đổi trong năm: - Gió mùa Đông – Bắc thịnh hành vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), vận tốc trung bình biến đổi từ 2,8 - 4,0 m/s. - Gió Tây – Nam thịnh hành vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), vận tốc gió trung bình biến đổi từ 3,0 – 5,1 m.
- Gió mạnh thường xảy ra vào các tháng 6 - 8, vận tốc gió lớn nhất tuyệt đối lên tới 31,7m/s. Chế độ gió theo mùa đã chi phối mạnh mẽ và có ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất và sinh hoạt của ngư dân ở các đảo nhỏ của huyện Phú quốc, họ thường phải di chuyển nơi ở theo mùa để tránh gió [7]. Thủy văn Vùng dự án được bao bọc ở 3 phía Bắc, Đông, Tây bởi biển với chiều dài bờ biển khoảng 60 km, chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều. Nguồn nước mặt khá phong phú.
Mật độ sông suối 0,42 km/km2. Có 2 hệ thống sông có diện tích lưu vực 10 km2 trở lên. Tổng diện tích lưu vực 252 km2 (Chiếm 25% tổng diện tích đảo). Các sông, rạch lớn chảy qua vùng dự án như: + Rạch Cửa Cạn: Bắt nguồn từ núi Chúa, chiều dài sông chính 28,7 km, tổng chiều dài sông suối 69 km, diện tích lưu vực 147 km2.
+ Rạch Dương Đông: Bắt nguồn từ núi Đá Bạc, chiều dài sông chính 18,5 km. Tổng chiều dài sông suối 63 km, diện tích lưu vực 105 km2. + Ngoài ra còn có các sông rạch khác như: Rạch Tràm, Rạch Vẹm, Rạch Vũng Bầu, Rạch Cá. Nhìn chung, các sông suối đều ngắn nhỏ, do ảnh hưởng của địa hình, mức độ tập trung bờ Tây lớn hơn bờ Đông.
Độ che phủ của rừng khá cao, lại nằm trong vùng có lượng mưa lớn (3. Nên hệ thống sông suối khá phát triển. Lượng mưa trung bình trong năm tương đối cao cộng với địa hình đồi dốc bao bọc xung quanh nên lượng nước tập trung nhanh, bên cạnh đó các cửa sông rạch lại hẹp nên xảy ra tình trạng ngập lũ Nguồn nước ngầm cũng khá, nước ngầm tầng nông có đều khắp vùng dự án. Nước ngầm tầng sâu ở vùng phía Bắc đảo có khó khăn hơn (2 điểm khoan sâu 30m, 40m ở Gành Dầu không có nước) [7].
Hệ thực vật - Theo Dự án Bảo tồn và Phát triển Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang năm 2011, hệ thực vật ở VQG Phú Quốc khá phong phú có khoảng 1.164 loài thực vật bậc cao có mạch trên cạn, thuộc 66 bộ, 137 họ và 531 chi của 6 ngành thực vật VQG Phú Quốc có 6 kiểu rừng chính: (a). Rừng nguyên sinh trên núi Xuất hiện ở độ cao từ 350 đến 603 m so với mực nước biển. Kiểu rừng này có sự hiện diện của 3 loài thực vật hạt trần là Hoàng đàn giả (Dacrydium peirrei); Thông nàng (Podocarpus imbricatus) và Kim Giao (Nageia fleury). Rừng nguyên sinh cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) Phân bố từ độ cao 100 m đến 350 m so với mực nước biển.
Chiếm ưu thế trong kiểu rừng này là các loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae). Rừng thứ sinh Có mặt trên phần lớn diện tích của VQG tại các khu vực có địa hình đồi thấp và bằng phẳng (30 - 100 m so với mực nước biển). Đây thường là kiểu rừng tái sinh với mật độ dày đặc sau khai thác gỗ hoặc các tác động khác của con người trước đây. Rừng tràm Xuất hiện ở độ cao 20 - 30 m so với mực nước biển trong vùng chuyển tiếp giữa núi và thung lũng.
Vào mùa mưa, các khu vực này thường bị ngập nước, cá biệt có một số khu vực nước ngập quanh năm. Rừng ngập mặn Phân bố thành các đám ven cửa sông, suối gần biển và dọc bờ biển với sự phân bố của loài Cóc đỏ (Lumnitzera littorea), là loài thực vật hiếm trong sách đỏ Việt Nam.