mở đầu cho một giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. [7] Thầy thuốc người Hy Lạp Dioscorides năm 60 – 20 (TCN) giới thiệu 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh. Đồng thời, ông cũng là người đặt nền móng cho nền y dược học [7] Năm 79 -23 TCN, nhà tự nhiên học người La Mã Plinus soạn thảo bộ sách “Vạn vật học” gồm 37 tập giới thiệu 1.000 loài cây có ích [7]. Năm 1533 -1617, nhà thực vật học người Ý Piospiero Alpim phát hiện sự tồn tại của cá thể đực, cái của cây Chà là, miêu tả được hình thái của cây Cà phê[18] Nhà Thực vật học người Thụy Sĩ: Alphonse de Cadoue với tác phẩm: “Địa lý học tự nhiên” (1855) và “Nguồn gốc cây trồng” (1883) đã thống kê các loài cây có ích [18].
Charles Pickering (1879) đã nghiên cứu và đúc kết rút lại cho biết người Ai Cập cổ đại đã biết sử dụng những cây có tinh dầu để điều trị bệnh và ướp xác các vua chúa hoặc làm nước thơm từ hơn 4.000 năm trước Công nguyên. Người Nhật Bản đã biết sử dụng cây Bạc hà làm thuốc trị bênh từ 2.000 năm trước đây…[2] Năm 1952, tác giả người Pháp A.Pétélot có công trình “Les phantes de mesdicinales du Cambodye, du Laos as du Vietnam” gồm 4 tập nghiên cứu về cây thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thực vật ở Đông Dương (A. Tổng quan về cây thuốc ở Việt Nam 1. Hiện trạng, các nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam Ở nước ta, công tác điều tra dược liệu trải qua nhiều giai đoạn.
Ở miền Bắc, được tiến hành từ năm 1961 do Viện Dược liệu chủ trì. Ở miền Nam, do Phân Viện Dược liệu TP.HCM kết hợp với các trạm dược liệu tỉnh thực hiện từ năm 1980 – 1985 ở hầu hết các tỉnh thành phía nam từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào. Gần đây, là việc tái điều tra lại nguồn dược liệu trong cả nước do Viện Dược liệu và Trung tâm Sâm và Dược liệu TP.HCM thực hiện phối hợp với địa phương tập trung ở các tỉnh miền PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 9 Trung và Tây Nguyên. Kết quả ghi nhận được cho đến năm 2005 trong cả nước có tất cả 3.948 loài cây thuốc thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật vượt qua con số 3.200 loài được ghi nhận trong từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997).
Trong số đó trên 90% là cây hoang dại và có 144 loài đã được đưa vào «Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam năm 2006» và «Cẩm nang Cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam» (Nguyễn Tập, 2006). Điều này cho thấy tiềm năng cây thuốc rất phong phú mà chúng ta vẫn chưa phát hiện hết trong tự nhiên và việc sử dụng chúng trong dân gian cũng như từ những nền y học cổ truyền khác của thế giới. Theo thống kê của ngành Lâm nghiệp, diện tích rừng ở nước ta từ 14,3 triệu héc ta vào năm 1943, đến năm 1993 chỉ còn khoảng 9,3 triệu héc ta (Bộ Lâm nghiệp, 1995). Trong đó, diện tích rừng nguyên thủy còn lại không tới 1% tổng diện tích lãnh thổ (Averyanov, L.
Rừng bị phá hủy sẽ làm cho toàn bộ tài nguyên rừng ở đó bị mất đi, trong đó có cây làm thuốc và còn kéo theo nhiều hậu quả khác (Nguyễn Tập, 2007). Trong khi đó xu hướng trở về với thiên nhiên, tìm kiếm nguồn thuốc mới từ cây cỏ, sử dụng thuốc từ thảo dược trên thế giới ngày càng tăng. Ngày 22/3/2005, tại Quyết định số 765/2005/QĐ-BYT, Bộ trưởng Bộ Y tế đã phê duyệt kế hoạch thực hiện Chính sách quốc gia về Y Dược học cổ truyền đến năm 2010. Quyết định này có nêu rõ: Bộ Y tế phối hợp với Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn quy hoạch vùng chuyên trồng dược liệu, từng bước đến 2010 đạt GACP (Thực hành tốt trồng trọt và thu hái dược liệu).
Nền y học cổ truyền của nước ta đã được hình thành qua quá trình lao động và sản xuất. Trong đó nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả cao.Và những kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong dân gian. o Đỗ Tất Lợi “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” o Phạm Hoàng Hộ “ Cây có vị thuốc ở Việt Nam” o Võ Văn Chi “ Từ điển cây thuốc Việt Nam” Theo kết quả điều tra trên phạm vi toàn quốc từ 1961-1985, Viện Dược liệu đã ghi nhận được ở nước ta có 1.836 loài thuộc 263 họ được sử dụng làm thuốc. Trước đó, vào năm 1952, các nhà thực vật học và tài nguyên thực vật học Pháp cho biết, trên bán đảo Ðông Dương có 1.350 loài cây thuốc thuộc 160 họ.
Hiện nay, theo Võ Văn Chi, con số này đã lên tới gần 3.200 chi của trên 300 họ, nghĩa là hầu hết các họ trong hệ thực vật Việt Nam, ít hoặc nhiều đều có một số loài có thể sử dụng làm thuốc. Tuyệt đại đa số các loài là cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm lâu đời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam[6]. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 10 Theo Lê Thanh Chiến (2005), lâm sản ngoài gỗ trong đó có cây thuốc với đặc tính dễ trồng, giá trị kinh tế cao có thể cải thiện đời sống của cộng đồng. Vì vậy, phát triển LSNG là một động lực và là một yếu tố chủ chốt trong quản lý và bảo vệ rừng.
Để phục vụ cho nhu cầu phát triển LSNG nói chung, cây dược liệu nói riêng ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu được công bố như: Đỗ Tất Lợi với công trình “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” đã mô tả đặc điểm sinh thái, đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học và phân tích thành phần hóa học, công dụng, cách sử dụng hơn 1000 loài thuốc để chữa bệnh. Tác giả cũng đề cập tới kĩ thuật trồng một số loài cây thuốc nhưng không đi sâu vào vấn đề này. Trần Công Khánh với “150 loài thuốc độc ở Việt Nam” mô tả đặc điểm nhận biết để phân biệt các loài cây có độc tố cũng như đặc điểm phân bố và khả năng sử dụng chúng dùng làm thuốc trừ sâu cho cây trồng.
Theo số liệu thống kê giá trị các mặt hàng LSNG xuất khẩu của Việt Nam (1996) đạt 1.510 triệu USD, trong đó cây dược liệu đạt 689,9 triệu USD chiếm 45,64% [3]. Một số nghiên cứu về Sâm cau 1. Một số nghiên cứu về Sâm cau trên thế giới Sâm cau là một loại cây thân thảo lâu năm, thuộc họ Hạ trâm hay Tỏi voi lùn(Hypoxidaceae), nhưng cũng có một số tài liệu cho rằng nó thuộc họ Loa kèn đỏ (Amaryllidaceae). Sâm cau còn được gọi là Xian Mao ở Trung Quốc và các tên khác của loại thảo dược này cũng bao gồm Cỏ mắt vàng, Syah Musli, Kali Musali, Musli đen [23], Hemapuspi, Talamulika, Mosali [19,44], Golden Eye-grass [24].
Cây Sâm cau có ở Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á. Ngoài ra Sâm cau còn được tìm thấy ở Ấn Độ và có phân bố rộng ở dãy Himalaya cận nhiệt đới từ Kumaonvề phía đông và ở Tây Ghats từ Konkan về phía nam [25]. Về sinh thái: loài Sâm cau thường sống ở những nơi có độ cao trung bình và thấp, dưới 1.600m, như sườn đồi, rừng, nơi hoang dã và đồng cỏ [3]. Sâm cau ưa mọc dưới các tán cây, chịu bóng nhưng vẫn cần một chút ánh sáng.
Lá phát triển tốt và có thể không cần che bóng [26]. Cây Sâm cau điều trị được rất nhiều bệnh như: đối với chứng đau lưng, thận yếu, suy nhược thần kinh, bí đái, viêm thận mãn tính, yếu sinh lý, đái dầm[27]. Tại Ấn Độ, Pakistan và Trung Quốc, rễ củ đã được sử dụng cho các bệnh ung thư, bệnh vàng da, hen, chữa lành vết thương. Thân rễ chiết xuất thành nước đã được sử dụng như là thuốc bổ để điều trị bệnh yếu sinh lý.Ở Ấn Độ, rễ cây đã được sử dụng PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 11 như là một chất kích thích tình dục và cũng được sử dụng cho bệnh lậu, bệnh vàng da, nôn mửa [27].
Ở Ấn Độ cho rằng Sâm cau có tính chất nhầy dịu, tác dụng lợi tiểu, bổ, kích dục, sử dụng chữa trĩ, vàng da, hen suyễn, tiêu chảy, lậu. Dùng ngoài đắp chữa ngứa và bệnh ngoài da. Trung Quốc dùng chiết suất từ rễ Sâm cau để chữa bệnh ung thư. Sâm cau cũng được cho là có tác dụng trị đái tháo đường [28].
Theo các tác giả khi nghiên cứu sản xuất các hợp chất thứ cấp của loài Sâm cau [29] cho biết đây là một loại thảo dược sống nhiều năm và đang nguy cơ tuyệt chủng ở Ấn Độ. Trong tự nhiên loài này xuất hiện trong rừng sau mùa mưa và tàn lụi vào cuối mùa gió mùa năm sau. Tỷ lệ tái sinh tự nhiên là rất thấp. Theo Dhenuka et al.(1999) khi nghiên cứu nhân giống từ rễ loài cây này đã kết luận loài này có thể nhân giống vô tính bằng cách sử dụng thân rễ tuy nhiên rất dễ bị nhiễm virus.
Việc nhân giống bằng hạt thường không đáng tin cậy do chất lượng hạt giống kém và khả năng nảy mầm thấp. Một phương pháp nhân giống vô tính hiệu quả trong ống nghiệm của loài Sâm cau là sử dụng mô phân sinh đỉnh. Nhiều cây mầm đã được nhân lên từ đỉnh sinh trưởng phát triển trên Murashige và Skoog (MS) có bổ sung 1,5 mg/l 6.benzylade (BA), 100 mg/l adenine sulfate và 3% sucrose có bổ sung các axit indole-3-butyric (IBA) hoặc indole- axit 3-acetic (IAA) trong môi trường nuôi cấy cải thiện sự hình thành của nhiều mầm. Tần số cao nhất của nhân đã thu được trên môi trường MS có bổ sung 1,5 mg/l BA, 100 mg/l, 0,25 mg/l IBA và 3% sucrose.
Rễ đã hình thành khi chuyển các vi chồi sang môi trường MS có chứa 0,25 mg/l IBA và 2% sucrose. Nuôi cấy cây con cứng cáp trong nhà kính sau đó chuyển ra cấy trên môi trường đất cát. (Salema Valencio Francise t a l. Dennis Thomas (2007) đã nghiên cứu nhân giống bằng rễ củ.
Nhiều cây mầm đã phát sinh từ môi trường MS bổ sung riêng lẻ NAA (0,5và 1,0), TDZ (2-8) và BAP (2-8)[30]. Nagesh và cs. đã nhân giống Sâm cau từ môi trường MS bổ sung 2,4 – D(0,1-0,5mg/l) hoặc NAA (0,1-0,5 mg/l). Sau 5 tuần đã bắt đầu nảy chồi và bước đầu cho kết quả khả quan, mẫu nảy chồi trên 70%[31].