Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tổng quan về cây lá kim 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Thực vật Hạt trần (Gymnospermae)là một nhóm thực vật có hạt mà hạt được chứa trên các cấu trúc tương tự như hình nón (còn gọi là quả nón) chứ không phải bên trong quả như thực vật Hạt kín. Thực vật Hạt trần là những loài thực vật cổ nhiều mẫu hóa thạch có niên đại các bon đến 300 triệu năm (Bách khoa toàn thư: http//vi. Cây lá kim (Conifers) là tập hợp các loài thuộc lớp Thông (Pinopsida), đây là lớp lớn nhất và đa dạng nhất thuộc ngành Hạt trần với 9 họ, 70 chi và khoảng 650 loài.
Vì cây lá kim là thành phần quan trọng của thực vật hạt trần, do đó việc phân loại cây lá kim cũng được nghiên cứu bởi nhiều tác giả trên thế giới. Đáng kể nhất là nghiên cứu của Vidakovic (1991) (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2004) đã chia cây lá kim thành 5 họ là Pinaceae, Taxodiaceae, Cuppressaceae, Podocarpaceae và Cephalotaxaceae. Trong đó, Thủy tùng được xếp và họ Taxodiaceae cùng với Bụt mọc và Sa mu [25]. Ngoài vấn đề phân loại, sự phân bố cây lá kim cũng được nghiên cứu bởi nhiều tổ thành và các nhà khoa học.
Gần 4 đây, nhà thực vật người Mỹ Williams, C. Một số tác giả còn nghiên cứu về cấu trúc gỗ của thực vật Hạt trần như nghiên cứu của Stephen G. Pallardy (2008) cho thấy: các yếu tố theo chiều dọc của xylem bao gồm quản bào, trục nhu mô và các tế bào biểu mô. Các yếu tố theo chiều ngang bao gồm tia quản bào, tia tế bào nhu mô và biểu mô.
Rải rác cũng có các ống dẫn nhựa mà chúng là các khoảng gian bào cho sự phát triển bề dày thượng tầng. Ống dẫn nhựa là đặc trưng thông thường của loài Thông, Vân sam, Linh sam [41]. Từ các nghiên cứu trên cho thấy rằng, thực vật Hạt trần mà đặc biệt là cây lá kim bao gồm những cây cao nhất, lớn nhất và cổ xưa nhất trên thế giới, nhưng chiếm tỷ lệ rất hấp so với thực vật Hạt kín (trên 600 loài), trong khi đó thực vật Hạt kín có khoảng 170. Mặc dầu số loài không nhiều so với thực vật Hạt kín nhưng thực vật Hạt trần phân bố khá rộng và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội ở nhiều nước trên thế giới.
Các công trình nghiên cứu về thực vật Hạt trần nhìn chung còn khá khiêm tốn so với thực vật Hạt kín [39]. Nghiên cứu sinh sản của của cây lá kim Khi nghiên cứu cơ chế thụ phấn, thụ tinh của cây lá kim Williams, C. (2009) cho thấy, bộ phận sinh sản cái chỉ có thể tiếp nhận hạt phấn khi các vảy nón tách rời nhau ra và sự tiếp nhận này thông qua giọt thụ phấn. Giọt thụ phấn có tác dụng bắt hạt phấn và cung cấp chất dịch cho sự hydrat hóa hạt phấn.
Giọt thụ phấn là sự bài tiết được sản xuất ra noãn và được phô ra bên ngoài lỗ noãn [17]. 5 Bất chấp thời gian dài hay ngắn thì tất cả chu kỳ sinh sản cái ở cây lá kim đều có một đặc điểm chung là giao tử cái phát triển sau khi thụ phấn. Quá trình phát triển này tiến hành thông qua 3 giai đoạn chính: giai đoạn nhân tự do, giai đoạn tế bào hóa và giai đoạn sinh trưởng của tế bào (Singh 1978; Konar và Moitra 1908; Friedman và Carmichael 1998) [39]. Theo Owens, John.
N, (2006), quá trình sinh sản của cây lá kim được trải qua 4 giai đoạn là sự phát triển của giao tử đực, sự phát triển của giao tử cái, sự thụ phấn thụ tinh và sự phát triển nón, hạt. Khi thụ tinh có hai nhân đực từ ống phấn chui vào túi noãn, một trong hai nhân ấy hợp với nhân của tế bào trứng tại thành hợp tử và phát triển thành phôi lưỡng bội, còn nhân đực thứ hai tiêu biến đi. Sau khi thụ tinh thì nón lớn lên về kích thước, trọng lượng, hàm lượng nước và tích trữ chất dinh dưỡng. Đến khi nón gần chín thì hàm lượng nước giảm đi, những chất dự trữ được chuyển từ nón vào hạt, lúc này nón hạt trở lên cứng và hóa gỗ [39].
Nghiên cứu giá trị kinh tế, sinh thái Cây lá kim ở tất cả các nơi phân bố là nguồn cung cấp gỗ chủ yếu. Bên cạnh giá trị cho thị trường trong nước và quốc tế, gỗ cây là kim còn rất quan trọng cho người dân trong đời sống hàng ngày. Gỗ cây lá kim trên thị trường quốc gia và quốc tế sử dụng chủ yếu để sản xuất các đồ mỹ nghệ và đồ gỗ cao cấp, trong khi ở các thị trường địa phương sử dụng nhiều cho mục đích xây dựng [17]. Nghiên cứu về nhân giống cây lá kim Các loài cây lá kim được nhiều nước trên thế giới tập trung nghiên cứu, ứng dụng giâm hom nhằm phục vụ cho các chương trình trồng rừng dòng vô tính đã được tuyển chọn.
Riêng hai nước Australia và New Zeland sản xuất hàng năm trên 10 triệu cây hom P. Quebee là nơi được đầu tư nghiên cứu và sản xuất nhiều loài cây trồng để phục vụ cho trồng rừng, trong đó có cây lá kim. Năm 2008 sản xuất được 4,07 triệu cây lá kim bằng giâm hom, chiếm 3% tổng số cây giốngđược sản xuất tại Quebee. Các nhóm giống được 6 ưu tiên nhân nhanh để trồng rừng là: nhóm phân bố rộng (Picea mariana, Pinus Banksiana), nhóm sinh trưởng nhanh (Larix, Populus), nhóm năng suất cao (Picea glauca, Picea abies) [23].
Đối với loài cây Vân sam đen (Picea mariana), Canada đã sản xuất hàng năm trên 3 triệu cây hom, Vân sam (Picea sitchensis) được ba nước trên (Australia, New Zeland và Canada) tạo ra gần 4 triệu cây hom mỗi năm. Đặc biệt năm 1989, ở Nhật Bản sản xuất 31,4 triệu cây hom Liễu sam (Cryptomeris japonica). Vân san Na Uy (Picea abies) là loài cây lá kim cũng thu hút được thành công trong việc nhân giống bằng hom với số lượng lớn phục vụ công tác trồng rừng dòng vô tính, nhất là ở châu Âu. Chỉ tính riêng một số cơ sở giâm hom của một số nước mà hàng năm đã sản xuất gần 11 triệu cây hom.
Qua 10 năm khảo nghiệm ở Mỹ, mới đưa vào sản xuất đại trà cây thông Noel (P. radiata) với các đặc tính tốt của cây trang trí, sinh trưởng nhanh, chịu lạnh, chịu hạn [22]. Trường Cao đẳng Lâm nghiệp Tây Nam Trung Quốc (2004) đã nghiên cứu giâm hom loài Thông Pinus kesiya. Thí nghiệm được tiến hành trong nhà kính có sử dụng chất điều hòa sinh trưởng với loại hom bánh tẻ 1 năm tuổi.
Thí nghiệm cho thấy tỷ lệ ra rễ cao nhất 90% khi sử dụng chất nền là đá trân châu và đất mùn. Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng có thể rút ngắn giai đoạn ra rễ, tăng số lượng rễ và chiều dài của rễ mới. Trong các chất điều hòa sinh trưởng được thí nghiệm thì chất IAA nồng độ 1.000ppm cho kết quả ra rễ tốt nhất, tiếp theo là hỗn hợp giữa IAA nồng độ 1.000ppm và NAA nồng độ 2. Hội nghị Bắc Âu về “Nhân giống và gây trồng cây là kim” được tổ chức tại Punkaharju, Phần Lan vào ngày 10-11 tháng 9 năm 2007.
Mục đích của hội nghị là chia sẻ ý kiến và kinh nghiệm giữa các nhà nghiên cứu, nhà sản xuất về nhân giống và gây trồng cây lá kim [40]. Những thành tựu đạt được trong nhân giống bằng hom và trồng rừng vô tính cây hom là kết quả nghiên cứu hàng chục năm qua nhiều thế hệ của các 7 nhà khoa học lâm nghiệp trên thế giới. Các kết quả trên là điều khích lệ cho các nước khác đổi mới trong công tác nghiên cứu nhằm cải thiện giống cây rừng, tạo tiền đề cho việc tăng sản lượng và chất lượng rừng trồng, đáp ứng nhu cầu đời sống ngày càng cao của xã hội. Các nghiên cứu trong nước Theo Phan Kế Lộc và các cộng sự (2004), cây hạt trần bao gồm các Cây lá kim (Conifoers), Tuế (Cycas), Gắm (Gnetums), Ma hoàng (Ephedras) và Bạch quả.
Cây Hạt trần có lịch sử rất lâu đời trên 300 triệu năm trước, chúng được công nhận có trước cây Hạt kín, tuy nhiên có thể không phải là tiền thân của cây Hạt kín. Ngày nay nhiều chi chỉ cong vài loài hạn chế ở những điều kiện môi trường ẩm, những loài này được xem là “hóa thạch sống” còn lại. Như vậy, có thể thấy rằng cây Hạt trần có nguồn gốc rất cổ xưa, nhiều loài cho đến nay vẫn còn tồn tại ở nước ta như Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis), Thông hai lá dẹt (Pinus krempfii),. và các loài này đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng [17].
Khi nghiên cứu và đánh giá hiện trạng của cây là kim [25] đã cho thấy Việt Nam có khoảng 33 loài cây lá kim bản địa; trong đó có 14/33 loài được xếp vào danh sách đang bị đe dọa tuyệt chủng trên thế giới và 29/33 loài được đánh giá bị đe dọa tuyệt chủng ở mức quốc gia. Đặc biệt có 10 loài cây lá kim ưu tiên cho hoạt động bảo tồn: Thủy tùng, Bách Đài Loan, Bách vàng, Pơ mu, Sa mộc dầu, Thông nhựa, Hoàng đàn, Bách xanh, Thông lá dẹt. Kết quả nghiên cứu này một lần nữa cho thấy rằng cây lá kim Việt Nam mặc dầu hạn chế về số loài nhung số loài bị tuyệt chủng chiếm tỷ lệ rất cao trong đó có Thủy tùng [25]. Cũng theo Nguyễn Đức Tố Lưu, Philip Ian Thomas (2004), mặc dù dưới 5% số loài cây lá kim đã biết trên thế giới được tìm thấy ở Việt Nam nhưng số cây lá kim Việt Nam lại chiếm 27% số các chi và 5 trong số 8 họ đã biết.
Số liệu trình bày ở bảng 1 dưới đây cho thấy Việt Nam là quốc gia khá đa dạng về các loài cây lá kim và đã được IUCN xếp vào một trong 10 điểm nóng nhất trên thế giới về bảo tồn cây là kim [19, 39]. 8 Bảng 1: Các loài cây lá kim bản địa của Việt Nam so với thế giới Số chi Số chi/loài Số loài/loài đặc Họ ở Việt trên thế giới hữu ở Việt Nam Nam Bách tán (Araucariaceae) 3/41 0 0/0 Đỉnh tùng (Cephlotaxaceae) 1/5-11 1 1/0 Hoàng đàn (Cupressaceae) 30/135 7 7/2 Phyllocladaceae 1/4 0 0/0 Thông (Pinaceae) 11/125 5 10/1-2* Kim giao (Podocarpaceae) 18/190 4 6/1-3** Sciadopityaceae 1/1 0 0/0 Thông đỏ (Taxaceae) 5/23 2 6/2 Tổng số 70/635 19 29-30/5 Nguồn: Nguyễn Tiến Hiệp và các cộng sự [6] * Một số loài Thông vừa mới phát hiện ở Việt Nam và có thể là loài đặc hữu; ** Số lượng các loài Thông tre ở miền Bắc Việt Nam chưa được xác định chắc chắn có thể 2-3 loài chưa được mô tả và những loài này có thể là loài đặc hữu.