CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU PHÂN BỔ NGUỒN NƯỚC VÀ ĐẶC ĐIỂM LƯU VỰC SÔNG VU GIA - THU BỒN 1. Khái niệm và vai trò của phân bổ nguồn nước 1. Khái niệm Nguồn nước: theo Luật Tài nguyên nước năm 2012, “Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác”. Nước mặt: là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.
Hệ thống tài nguyên nước: là một hệ thống phức tạp, bao gồm nguồn nước, các công trình khai thác tài nguyên nước, các yêu cầu về nước cùng với mối quan hệ tương tác giữa chúng và sự tác động của môi trường lên nó [11]. Lượng nước có thể phân bổ: là lượng nước có thể sử dụng trừ đi lượng nước dành cho các ưu tiên sử dụng, lượng nước quy định trong các thỏa thuận liên vùng, liên quốc gia và lượng nước dành cho đảm bảo yêu cầu dòng chảy tối thiểu [70]. Phân bổ nguồn nước: là quá trình chia sẻ nguồn nước giữa các vùng và các đối tượng sử dụng nước khác nhau. Nói một cách đơn giản, đó là cơ chế xác định ai có thể khai thác, khai thác bao nhiêu, khai thác ở đâu, khi nào và cho mục đích gì [80].
Theo IWMI (International Water Management Institute): “Phân bổ nguồn nước (water allocation) hiểu theo nghĩa đơn giản là sự chia sẻ nguồn nước giữa các ngành dùng nước với nhau trên lưu vực sông để đảm bảo lợi ích của tất cả người dùng”. Phân bổ nguồn nước cũng bao gồm cả sự chia sẻ nguồn nước giữa các lưu vực sông lân cận với nhau, nhất là giữa lưu vực sông có nhiều nước với lưu vực sông có ít nước nhằm đảm bảo lợi ích cao nhất cho phát triển kinh tế của toàn vùng. Phân bổ hợp lý nguồn luan an 8 nước sử dụng là một yêu cầu quan trọng cần phải thực hiện trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông hiện nay, trong đó cần xác định các nguyên tắc phân bổ nguồn nước, cách thức tổ chức quản lý và giải quyết các mâu thuẫn trong sử dụng nước [73]. Vai trò của phân bổ nguồn nước Trong bối cảnh hiện nay, tài nguyên nước là tài nguyên có vai trò đặc biệt quan trọng với tất cả các lĩnh vực, các đối tượng sử dụng cho các mục đích khác nhau.
Phân bổ nguồn nước là công cụ đặc biệt quan trọng cho việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, ra quyết định, định hướng phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững [71]. Do vậy, phân bổ nguồn nước hài hòa, hợp lý và hiệu quả giữa các đối tượng sử dụng nước sẽ đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và giảm áp lực đối với các cơ quan nhà nước về tài nguyên nước. Lợi ích tiềm năng của phân bổ nguồn nước được thể hiện thông qua: (i) Tăng cường lợi ích kinh tế lâu dài từ việc sử dụng nước; (ii) Cải thiện về mặt xã hội; (iii) Cải thiện tính bền vững về môi trường; (iv) Giảm áp lực đối với chính phủ và cơ quan quản lý nhà nước về TNN. Trên lưu vực sông, nếu nguồn nước được phân chia rõ ràng, hợp lý cho tất cả các yêu cầu sử dụng thì sẽ giảm bớt các xung đột trong sử dụng nước và quyền sử dụng nước chính đáng của người dùng mới được bảo vệ, nhất là quyền dùng nước của các cộng đồng dân cư nhỏ và người dân sống ven sông, những con người thường ít có cơ hội và tiếng nói trong việc đòi hỏi quyền dùng nước của mình khi bị xâm phạm [48], [57], [60].
Trong thực tế, vấn đề phân bổ nguồn nước chưa thực sự cần thiết đối với những lưu vực sông có lượng nước sử dụng còn ít so với tiềm năng nguồn nước. Tuy nhiên, phân bổ nguồn nước lại đặc biệt quan trọng đối với những luan an 9 sông có nguồn nước bị hạn chế so với yêu cầu sử dụng của các ngành trong những thời gian hạn hán, thiếu nước. Phân bổ nguồn nước hợp lý sẽ góp phần giảm sự mất cân đối giữa cung và cầu, mang lại lợi ích cho tất cả mọi người dùng nước và sự bền vững của môi trường [68]. Giải quyết vấn đề phân bổ nguồn nước không chỉ bao gồm việc nghiên cứu để đưa ra các nguyên tắc phân bổ lượng nước cho các ngành dùng nước, như mỗi ngành có thể sử dụng bao nhiêu phần trăm lượng nước của sông trong những điều kiện ràng buộc của nguồn nước đến, mà còn phải giải quyết các khía cạnh liên quan như thể chế, luật pháp, kỹ thuật, kinh tế tài chính, công trình, sự tham gia của người dùng.trong việc sử dụng nước [61].
Phân bổ nguồn nước được nhìn nhận là một thành phần trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở một lưu vực sông, nên chịu sự chi phối của các chức năng sau: - Thể chế: xác định và quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tư nhân trên lưu vực sông về phân bổ nguồn nước trong sông và nhất là khi nguồn nước đến bị hạn chế. - Luật pháp: quy định rõ quyền dùng nước trong các văn bản quy phạm pháp luật và khuôn khổ pháp lý trong việc quy hoạch, quản lý việc phân bổ, chia sẻ nguồn nước trên lưu vực sông. - Kỹ thuật: tính toán và đánh giá nguồn nước, mô hình hoá đặc tính và quá trình sử dụng nước, phân bổ nguồn nước, kỹ thuật vận hành, giám sát chất lượng nước. - Công trình: thiết kế, quy trình vận hành các công trình cung cấp và điều tiết nước, dẫn nước tới các hộ dùng nước hoặc chuyển nước sang lưu vực lân cận.
- Kinh tế tài chính: tính toán các chi phí và lợi ích trong sử dụng nước, xác định giá nước hợp lý trên cơ sở coi nước là hàng hoá có giá trị kinh tế để đánh giá hiệu quả kinh tế cho các phương án phân chia nước. luan an 10 - Sự tham gia của người dùng: cần có cơ chế phù hợp cho sự tham gia của tất cả người dùng nước trong việc phân bổ nguồn nước. Phân bổ hợp lý nguồn nước cho các ngành dùng nước cũng là giải pháp giúp cho thực hiện quyền dùng nước, đem lại sự công bằng cho xã hội, hiệu quả kinh tế cho những người dùng và sự bền vững về môi trường [72], [80]. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến phân bổ nguồn nước 1.
Trên thế giới 1. Nguồn gốc phân bổ nguồn nước Nguồn gốc của phân bổ nguồn nước được bắt đầu từ sự ra đời của kỹ thuật tưới tiêu trong Thiên niên kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Kỹ thuật tưới tiêu đã thúc đẩy sự phát triển của nền nông nghiệp cố định dài hạn. Năng suất tăng từ các cánh đồng phù sa bồi đắp được tưới tiêu đã tạo nên hiện tượng dư thừa lương thực và giải phóng một bộ phận nông dân để họ có thể tự do theo đuổi các sinh kế khác [79].
Thực tế lịch sử cho thấy, những nền văn minh sớm nhất của loài người thường phát triển dọc theo các hệ thống sông rộng lớn, ở những vùng đất đai màu mỡ trên thế giới. Phân bổ nguồn nước còn bổ sung độ màu mỡ cho đất nhờ ngập lụt, không những cho phép mà còn duy trì củng cố những nền văn minh này đến hàng nghìn năm. Tiêu biểu như nền văn minh cổ đại của Ai Cập (dọc sông Nile), Babylon (trên sông Tigris và Euphrates), Harappan (trên sông Indus) và triều đại Thương, Chu của Trung Hoa (trên sông Hoàng Hà). Cũng vì vậy mà đã có được những phương pháp phân bổ nguồn nước sớm nhất trong lịch sử thông qua các hệ thống thủy lợi [48], [54], [59], [83].
Các nền văn minh này tiếp tục phát triển dọc các hệ thống sông lớn ở thời điểm khi lượng nước vượt xa nhu cầu. Do đó, cách phân bổ nguồn nước thời kỳ xa xưa tập trung vào việc phân bổ nước giữa các hộ nông dân dọc các hệ thống thủy lợi. Thời kỳ Babylon cổ đại, vua Hammurabi (1795-1750 bc) đã lập đạo luật Hammurabi là tập hợp của các đạo luật với chủ đề khác nhau, luan an 11 trong đó có luật phân bổ nguồn nước. Tại Babylon, hệ thống thủy lợi ở châu thổ khô cằn Tigris và Euphrates dựa vào nguồn nước từ tuyết tan mùa đông.
Hệ thống tưới tiêu mùa hè hoạt động được nhờ một hệ thống các đập chứa nước nhỏ và kênh mương thủy lợi. Bộ luật Hammurabi thiết lập một loạt các đạo luật đảm bảo sự công bằng trong sử dụng nguồn nước từ nguồn lưu trữ cũng như kiểm soát tình hình sử dụng quá mức cho phép [80], [82]. Phân bổ nguồn nước và pháp luật Phân bổ nguồn nước được pháp luật quy định trong một quốc gia hay liên quốc gia. Đối với các nước có chủ quyền, thường được thực hiện trong khuôn khổ văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
Trung Quốc, Nam Phi và Úc cũng như nhiều nước khác đã thiết lập quyền của nhà nước trong quản lý tài nguyên nước và cung cấp căn cứ cũng như yêu cầu đối với các cơ quan chính phủ phát triển và thực hiện các quy hoạch phân bổ nguồn nước. Thay vì các phương pháp tiếp cận đặc biệt trong giải quyết các tranh chấp về nước, quy hoạch phân bổ nguồn nước hiện nay thường tuân theo các nguyên tắc và quy trình đánh giá nguồn nước hiện có để chia sẻ, phân bổ giữa các vùng và các đối tượng sử dụng [50], [55], [68], [78]. Trên phạm vi quốc tế, luật pháp cũng là vấn đề tác động lên các cuộc thương thuyết, thực hiện các thỏa thuận phân bổ nước đối với các dòng sông xuyên biên giới, như Ấn Độ và Pakistan đối với sông Indus, Mexico và Mỹ đối với sông Colorado và Bravo. Nhiều nỗ lực được thực hiện để thúc đẩy các thỏa thuận xuyên biên giới, trong đó có Bộ Quy tắc Helsinki 1966 về việc sử dụng nước trên các con sông Quốc tế và Hội nghị về Luật sử dụng nguồn nước quốc tế phi Hàng hải năm 1997.
Cùng với những văn bản khác, các điều khoản liên quan đến sử dụng “hợp lý và công bằng” các dòng sông xuyên quốc gia, chính là các nguyên tắc phân bổ nguồn nước [51], [52], [62], [65], [67], [69]. Sông Nile chảy qua 11 quốc gia, gồm Tanzania, Uganda, Rwanda, Burundi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Kenya, Ethiopia, Eritrea, Nam Sudan, luan an 12 Cộng hòa Sudan và Ai Cập. Với lượng nước khoảng 300 triệu m³/ngày, sông Nile là nguồn sống của hơn 300 triệu người và là nguồn cung cấp nước chính cho Ethiopia, Ai Cập và Sudan.