Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CUU Đắt là bộ phận quan trong của hệ sinh thái rừng, là tim gương phản ánh các hoại động sống của rừng như trao đổi chất, tích lũy, chuyển hóa năng lượng, sinh trưởng, phát triển, tái sinh rừng. Việc nghiên cứu đất rừng luôn được đặt nằm trong mồi quan hệ: ảnh hưởng của đất tới quan xã thực vật rừng. và ảnh hưởng ngược lại của quan xã thực vật đối với đất. Day là lĩnh vực nghiên cứu thu hút được nhiều nhà khoa học.
Vi vậy, những nghiên cứu này được thục hiện ở gin như tắt cả các nước, các vùng có kinh doanh rừng 1. Trên thé gi 1. Tình hình nghiên cứu về đánh giá phân hạng đất đai trên thế giới Đánh giá đất dai đóng góp vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xác định độ phì nhiêu của đất và là cơ sở cho việc để xuất cây trồng cũng như các. giải pháp duy trì và bảo vệ độ phì của đất.
Dinh giá đất dai như một khoa học đã được hình thành hàng trăm năm, hiện nay tồn tạ nhiễu quan điểm với nhiều phương pháp đánh giá đắt khác nhau. 'Vào những thập niên 60, ở Liên Xô và các nước Đông Âu việc đánh giá phân hạng dat dai được thực hiện qua ba bước: 1. So sánh các hệ thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên (đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng). Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai 3.
Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu là đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đắt) Phương pháp này mới chỉ thuần túy quan tâm tới khía cạnh tự nhiên của đất đai ma chưa xem xét day đủ khía cạnh kinh tế, xã hội của việc sử. dụng đất dai. 6 Hoa Kỳ đánh giá phân hạng dit đai được ứng dụng rộng rai theo hai phương pháp: 1. Phương pháp tng hợp: lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm làm.
tiêu chuẩn và chú ý đi vào phân hang dat dai cho từng loại cây trồng chính. Phương pháp yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tổ tự nhiên và kinh tế để so sánh, lay lợi nhận tối đa là 100 điểm để làm mốc so sánh với các dat khác. Ở An Độ và các vùng nhiệt đới âm châu Phi thường áp dụng phương. pháp biến thiên biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dưới dang các phương.
trình toán học, Kết quả phân hạng dit cũng được thể hiện đưới dang phần trăm hay cho điểm. ‘Thay rõ vai trò quan trọng của phân hạng đánh giá dit đai làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đắt, tổ chức Nông - Lương Liên hiệp quốc (FAO) đã tập hợp trí tuệ của các nhà khoa học đất và chuyên gia đầu ngành về nông. nghiệp của FAO và Hà Lan để tổng hợp nên kinh nghiệm của nhiều nước xây dựng nên tai liệu “Để cương đánh giá đất đai" (FAO - 1976). liệu này được các nước trên thể giới quan tâm, thử nghiệm và vân dụng vào công tác đánh giá đất đai ở nước mình và đều chấp nhận là phương tiện tốt nhất để đánh giá đắt, Đến năm 1983 đề cương này được bổ sung, chỉnh sửa cùng với hàng loạt các tải liệu hướng dẫn đánh giá đắt chỉ tiết hơn cho các vùng sản xuất khác nhau như: ~ Đánh giá đất dai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Land Evaluation for Rainfed Agriculture - FAO, 1983) ~ Đánh giá đất dai cho nén nông nghiệp có tưới (Land Evaluation for Irrigated Agriculture - FAO, 1980) - Đánh giá dat dai cho trong trọt có quảng canh (Land Evaluation for Extensive grazing - FAO, 1990).
~ Đánh giá đất dai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sir dụng đất (Land evaluation and farming system analysis for land use planning - FAO, 1992) Các phương pháp đánh giá dat của FAO dựa trên cơ sở phân loại đất thích hợp (Land suitability Classification), Cơ sở của phương pháp này là dựa trên sự so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng của đắt, gắn với phân tích các khía cạnh kinh tế xã hội, môi trường dé lựa chọn phương pháp phân tích tối ưu Các phương pháp đánh giá đất dai đã được FAO đề cập khá đầy đủ và được ứng dụng rộng khắp các quốc gia trên thé giới, day chính là cơ sở để đưa ra các quyết định cho việc quản lý và sử dụng hợp lý tải nguyên đất đai, một dang tải nguyên mã tự nhiên không thé tái tạo được. Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa đặc tính của đắt và sinh trưởng cây tring Độ phì của đất đóng vai trò cực kỳ quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và năng suất cây trồng, ngược lại các loài cây khác nhau cũng ảnh hưởng khác nhau tới tinh chat của dat. ‘Trén thể giới, nhiều tác giả đã tập trung vào nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính của đất và sinh trưởng của cây trồng. Nhiều quan điểm cho rằng.
đối với vùng ôn đới phản ứng của đất (pH), him lượng CaCO, va các chất bazơ khác, thành phần cấp hạt và điện thế oxy hóa khử của đất là những yếu tố quan trọng nhất. Có nghĩa là yếu tố hóa học quan trọng hơn yếu tổ vật lý. Còn ở vùng nhiệt đới các nghiên cứu lại cho rằng các yếu tổ như: khả năng giữ nước, độ day của ting đất, độ thông khí của đất là những yếu tổ giữa vai trò chủ đạo, hay yếu tố vật lý quan trọng hơn yếu tố hóa học (Chakraborty.N và Chakraborty (1989), Ohihta (1993), Marquez. Van để nghiên cứu về vật rơi rụng và sự hình thành thảm mục, min cũng đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu.
Một số nghiên cứu đã cho rằng, nguồn chất hữu cơ chính trong đất rừng là từ các rễ thực vật chết cung cắp, nhất là vùng đồng cõ th rõ rật. Nhu vậy, lượng roi rụng từ ây cũng rất lớn và không phải lúc nào cũng bổ sung cho phần trên lớp đất mặt. của hệ thống rễ cây rừng trong việc hình thành chất hữu cơ của đất ít hơn so với lượng rễ cây chết hàng năm của thực vật thân cỏ. Nhưng nó vẫn được tồn.
tại không chỉ bằng lượng rễ cây mà còn bằng sự ảnh hưởng của nhiều mặt của. hệ thống rễ đến đắt khi còn sống cũng như khi đã chất Theo nghiên cứu của viện sỹ Mê-lê-khốp (1982), thì trữ lượng thảm. mục cao thưởng xuất hiện ở các quần xã thực vật rừng vùng phía bắc hoặc trên núi cao ở các khu rừng hỗn giao (nơi có đến 100 tắn/ha vả c6 nơi chỉ đạt 20 tắn/ha), Một vài tác giả đã nghiên cứu quan hệ giữa các tính chất vật lý, hóa học của đất với hàm lượng chất hữu cơ, mùn trong đắt và đã rút ra nhận xét: nhiệt độ đất, độ âm, ty trọng, độ xóp và độ phì của dat phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm cầu trúc lớp thảm thực vật, khối lượng vật chất hữu cơ tích lũy được trên mặt dat và cường độ phân giải thảm mục. Khi nghiên cứu về đặc điểm phân giải chất hữu cơ ở rừng nhiệt đới, Baur (1960), David/Richas đã khẳng định rất chính xác rằng, chất hữu cơ ở mô sống cị từng chiếm từ 80 - 90% tổng lượng chất hữu cơ, còn lại 10 - 20% chất hữu cơ tồn tại ở vật rơi rung và ở trong dat, khi lớp phủ thực vật mit đi, đồng thời với điều kiện nhiệt âm cao ở vùng nhiệt đới làm cho vật rơi rụng bị phân giải nhanh chóng thi dat rừng sẽ bị thoái hóa mạnh va không thể phục hi lại được.
Vì vay, có thể nói “Rừng nhiệt đới nuôi đất”. Vin dé ảnh hưởng của cây mọc nhanh va trồng thuần loài đến đất rừng. nhiệt đới đang là chủ dé được nhiễu người chú ý. Trong những năm gần đây, do nhu cầu cao về gỗ giấy, gỗ củi các loài cây mọc nhanh như Bạch đàn, Lõi thọ, Thông.
đã được gây trồng trên những diện tích lớn ở các nước nhiệt đới. Việc thay thé các rừng rim nhiệt đới bằng rừng trồng thuần loài, mọc nhanh với chu kỳ khai thác ngắn đã gây ra những lo ngại về sự thoái hóa đất và giảm năng suất ở các luân ky sau. Đây là lâm học có ý nghĩa lớn trong lâm nghiệp nhưng đến nay còn ít được nghiên cứu. Một số nghiên cứu đã xác nhận rằng, các cây gỗ mọc nhanh tiêu thy một lượng dinh đường rit lớn ở giai đoạn đầu và giảm dần ở các tuổi giả hơn.
Vi vậy việc trồng cây mọc nhanh với chu kỳ khai thác ngắn ở nhiệt đới sẽ làm cho đất chóng kiệt qué hơn so với các loài cây lá nhọn có chu kỳ dai (80 - 100 năm) ở ôn đới (Chijiok (1980), Ghosh (1978), Smith. Các nhà khoa học An Độ Chandran.K (1988) đã nghiên cứu về đặc điểm đất đai dưới ba loại rừng trồng lá kim khác nhau: 'Cryptomelia Japonica, Pinus, Cupressos Torulosa và rừng lá rộng ở phía đông day Hymalaya cho thấy sự tích lũy thảm mục ở rừng lá kim là cao hơn so với rùng lá rộng. Dat ở các khu này đều chua và độ chua cao nhất ở tầng đất mặt dưới rừng thông Pinus phtula, Rừng Cryptomelia japonica có lượng canxi trao đồi lớn nhất. Nghiên cứu của Reynolds.M (1988) đã xem xét đất ở hai trạng thái: đất được che phủ bởi trảng cỏ cây bụi và đất được che phủ bởi rừng lá kim ở khu vực đất đốc xứ Wales.
Nghiên cứu đã xác nhận rằng việc trồng rừng lá kim làm cho nồng độ anion trong đất thay đổi từ I.5 - 3 lần trong khi nồng độ H* chi biến đổi rất it Phan lớn các nghiên cứu déu chi ra rằng, thực sự tổn tại mối quan hệ qua lại giữa thực vật và đất. Công trình nghiên cứu của Sain.SH, Rangas wamy.R (1988) đã dé cập đến mồi quan hệ giữa sinh trưởng của cây rừng. tự nhiên và rừng Phi lao với một số tính chất đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy.
tính chit của dit liên quan trực tiếp đến lượng tăng trưởng hang năm (tăng trưởng về chiều cao và đường kính). Tuy nhí quan hệ giữa tính chất đất và tăng trưởng chiều cao là chặt chẽ hơn so với tăng trưởng đường kính, Trong những năm gan đây Trung tâm Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) đã tiến hành nghiên cứu về: quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt đới. CIFOR đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng là Bach đàn, Thông, Keo trồng thuần loài trên các lập địa khác nhau ở các nước Brazil, Nam Phí, ‘rung Quốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biện pháp xử lý lập di khác nhau và các loài cây trồng khác nhau đã có ảnh hưởng khác nhau đến độ phì nhiêu của đất, cân bằng nước, sự phân hủy thảm mục và chu trình dinh.
dưỡng khoáng.