Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu về cây Hồng Hạc 1.1 Phân loại Cây Hồng Hạc là một loài thực vật có hoa trong họ Ráy (Araceae). Cây là loài được Croat mô tả khoa học đầu tiên năm 1995. Giới: Plantae Bộ: Alismatales Họ: Araceae Chi: Philodendron Loai: Philodendron billietiae Hinh 1.1 Cay Héng Hac (Nguén: MOW Garden) 4 1.2 Nguồn góc lịch sử Chi Philodendron nỗi tiéng trong giới cây cảnh, phô biến như cây có tán lá rộng, dễ trồng, và hữu ích cho việc trang trí nội thất, cảnh quan ở vùng khí hậu âm áp. Nhiều loài được cho là có khả năng leo tốt với rễ trên không, một số khác có lá mọc thành cụm và một số có thé đạt kích thước khổng 16.
Chi Philodendron có khoảng 700 loài, bao gồm nhiều giống lai và giống cây trồng đã được chọn lọc (Croat, 1990). Philodendron billietiae lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1981 trong rừng mưa nhiệt đới của vùng đất thấp ở Guiana - Pháp. Cây ở trong tình trạng không bị sâu bệnh, hình dạng của lá có sự đặc biệt. Mẫu cây sống đã được thu thập và đưa đến trồng tại nhà kính của Vườn Bách thảo Quốc gia Bi.
Sau khi trồng được hai năm, cây bắt đầu ra hoa và được chứng minh là một loài chưa được mô tả. Vào tháng 2 năm 1993, tác giả đã phát hiện ra một cây trưởng thành đang ra hoa. Loài này được Croat mô tả khoa học lần đầu tiên vào năm 1995 (Croat, 1995).3 Đặc điểm hình thái cây Hồng Hạc Kiéng lá Hồng hac được xem là một trong những dòng kiếng lá được ưa chuộng trong giới chơi cây trong nhà, cây có những chiếc lá mọc thắng, cuống lá xòe rộng. Mỗi chiếc lá được che bởi một lá bắc màu xanh lá đến màu cam nhạt.
Đặc điểm của lá bắc này là phần lớn không có gân và nhanh chóng rụng. Đối với cây non, các lóng đài và rễ có màu nâu tía trong khi ở cây trưởng thành, các lóng ngắn hơn và lá mọc thành cụm gần đỉnh thân, thân cây cũng dày hơn và tạo thành nhiều màng lưới tại vị trí đốt cây. Cuống lá trưởng thành có màu vàng cam, đặc biệt khi cây phát triển đưới ánh sáng mạnh. Cụm hoa tự mọc thành chùm 2 - 5 cái ở nách lá và mỗi cái được bao bọc bởi một lá bắc màu lục nhạt.
Trong canh tác, giai đoạn bat đầu ra hoa dién ra vào tháng 12 và kéo dai hai hoặc ba tháng. Lúc nở hoa, đài hoa xanh thường nở muộn trong ngày và có thé chỉ nở trong 12 giờ. Phiến mo có màu trắng bên trong, ống của phiến có màu đỏ hoa cà. Bên ngoài bề mặt của mo và gân giữa của phiến lá cho thấy một số những chấm nhỏ mau tia thường là do các mật hoa ngoại lai (Billiet, 1996).4 Điều kiện sinh trưởng, phát triển cây Hồng Hạc Cây Hồng Hạc sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ 20 - 25°C với nhiệt độ ban đêm tối thiểu là 18°C.
Cây phát triển tốt nhất ở nơi có đủ ánh sáng nhưng tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp. Phân hữu cơ phải được giữ âm quanh năm và không được dé khô hoàn toàn. Nước được cung cấp thường xuyên từ tháng 4 đến tháng 10 nhưng phải tránh ngập úng. Cây trồng trong chậu cần có sự hỗ trợ của một cây chống hoặc cây sào phủ rêu âm.
Phân bón lỏng có thé được cung cap trong mùa hè va mùa thu. Vào năm thứ hai, việc thay chậu diễn ra vào tháng 4. Khi được trồng trong điều kiện tốt, cây phát triển chỉ bốn lá mới mỗi năm (Billiet, 1996).2 Tình hình phát triển hoa, cây kiếng trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Tình hình phát triển hoa, cây kiểng trên thé giới Theo Đỗ Đình Thục (2019), diện tích trồng hoa, cây kiếng trên thế giới ngày càng tang. Chỉ tính riêng giá tri sản lượng hoa thế giới đã đạt trên 20 ty USD.
Các nước có giá trị sản lượng hoa lớn nhất là Nhật Bản 3,731 tỷ USD, Mỹ khoảng 3,270 tỷ USD, riêng Hà Lan là nước trồng hoa hàng đầu thế giới với khoảng 1.500 trang trại trồng hoa có tổng diện tích gần 10 nghìn ha, trồng gần 4.000 loài hoa khác nhau, sản xuất khoảng 1,7 ty bông hoa và 600 triệu chậu hoa cảnh mỗi năm, trong đó khoảng 70% là dé xuất khẩu. Giá trị xuất khâu hoa cây cảnh của thế giới hàng năm đều tăng lên. Trong đó thị trường hoa cây cảnh Hà Lan chiếm gần 50%. Các nước như Colombia, Tây Ban Nha, Kenia, Ecuado, Đức, Canada, Pháp, Mỹ, Israel có doanh thu từ xuất khâu hoa trên 100 triệu USD mỗi năm.
Tỷ lệ tăng hàng năm của thị trường xuất khâu hoa thế giới là trên 10%. Diện tích phát triển cây kiếng lá ngày cảng mở rộng. Kiéng lá ở Thai Lan được trồng để xuất khẩu sang thị trường Nhật, Mỹ, Thụy Điền, Ý. kiểng lá dùng để trang tri đi kèm với hoa, hoặc chưng trong nhà, ngoài vườn tạo không gian xanh tự nhiên.
Quy mô mỗi nhà vườn khoảng 5 - 10 ha. Theo tính toán của người trồng kiếng lá, mỗi năm một cây có thể cho 12 lá, giá xuất khẩu là 6 bath/1 lá (tương đương 45. Như vậy, doanh số xuất khẩu hàng năm của họ có thê đạt 1 tỷ đồng/ha.2 Tình hình phát triển hoa, cây kiếng ở Việt Nam Theo số liệu điều tra (Viện nghiên cứu rau quả, 2021), hiện cả nước có khoảng 45.000 ha hoa, cây kiếng, thu nhập bình quân trên cả nước là 520 triệu đồng/ha/năm. Như vậy so với năm 2000, diện tích hoa, cây kiếng năm 2020 đã tăng 6,6 lần, giá trị sản lượng tăng 27,5 lần (đạt 23.400 tỷ đồng, trong đó xuất khâu x4p xi 80 triệu USD), mức tăng giá trị thu nhập/ha là 2,1 lần (đã có nhiều mô hình đạt 1,5 tỷ đến 2,5 tỷ đồng/ha/năm).
Tốc độ tăng trưởng này là rất cao so với các ngành nông nghiệp khác. Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, hiện đối với ngành nông nghiệp, diện tích sản xuất hoa, cây kiếng trên địa bàn Thành phố từ năm 2016 - 2020 đạt 2.510 ha (vượt 12% so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 2. Tuy nhiên, 2 năm 2020 - 2021, dịch bệnh Covid - 19 diễn ra phức tạp, kéo theo tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cây kiếng bị giảm theo (Dinh Mạnh Hiệp, 2020). Từ năm 2016 đến nay, nhu cầu hoa cây kiếng bình quân tăng khoảng 15%/năm.
Đây được xem là tiền đề cho việc phát triển trồng hoa, cây kiếng thành hàng hóa lớn. Sản xuất, kinh doanh trồng hoa, cây kiếng hiện đã trở thành ngành có tiềm năng lớn và phát triển tại nhiều địa phương. Diện tích sản xuất hoa, cây kiếng trên địa bàn Thành phố đến năm 2022 tăng mạnh. Giá trị sản xuất hoa, cây kiếng bình quân đạt khoảng 1 tỷ đồng/ha/năm (Lê Thị Thúy Ai, 2020).
Về công tác sưu tập, nhập nội, chọn tạo và nhân giống hoa kiếng tại Trung tâm Công nghệ sinh học thành phố Hồ Chi Minh, sưu tập được 5 giống kiếng lá, 8 giống lan rừng, 2 giống hoa nền mới. Từ khi thực hiện chương trình đến nay, Trung tâm đã sưu tập và tuyên chon 212 giống hoa, cây kiểng các loại, trong đó, có 84 giống kiếng lá, 17 giống hoa nền, 75 giống lan Dendrobium, 1 giống lan Mokara, 5 giống lan Cattleya va 30 giống lan rừng. Trong đó, các giống kiếng lá mới gồm Thiên long, Hồng hạc, Vạn lộc, Thiên phú, Huyết long, Tuyết trắng, Hạnh phúc, Ái hồng, Má hồng đào đang được thực hiện nhân giống bằng kỹ thuật in vitro (Trung tâm Công nghệ Sinh học thành phố Hồ Chí Minh, 2020).3 Sơ lược về nuôi cấy mô tế bào 1.1 Khái niệm Nuôi cay mô tế bào thực vật là phương pháp nuôi cấy in vitro mô hoặc tế bào đã tach rời khỏi cơ thé thực vật trong môi trường thích hợp dé chúng trở lại trạng thái chưa phân hóa có khả năng phân chia tế bào và biệt hóa thành mô, cơ quan, phát triển thành cây con mới. Tất cả mọi tế bào của một cơ thể thực vật đều có tính toàn năng, nghĩa là chứa bộ gen y hệt nhau.
Do đó, tất cả các tế bào của một cơ thé đề có khả năng tổng hợp những loại protein - enzym giống nhau và nếu tế bào được nuôi dưỡng trong môi trường thích hợp đều có thé phát triển thành cây nguyên ven đặc trưng cho loài và ra hoa, kết quả bình thường (Nguyễn Quang Thạch, 2009).2 Sự phát triển ngành nuôi cấy mô 1.1 Sự phát triển ngành nuôi cấy mô trên thế giới Theo Nguyễn Đức Lượng (2006), lịch sử nuôi cấy mô tế bào thực vật gắn liền với những sự kiện nổi bật như sau: Năm 1902, Haberlandt là người đầu tiên đưa giả thuyết của Schleiden và Schwann vào thực nghiệm dé chứng minh tính tồn thế của tế bào, nhưng ông đã thất bại trong nuôi cây các tê bào đã phân hóa tách từ lá một sô cây một lá mâm. Năm 1922, Kotte và Robbins đã thành công trong việc lặp lại thí nghiệm của Haberlandt với đỉnh sinh trưởng tách từ rễ của của một cây hòa thảo trong môi trường lỏng chứa muối khoáng va glucose. Chỉ tồn tại một thời gian sau đó chậm dan và ngừng lại. Năm 1934, White đã thành công trong việc phát hiện ra sự sống vô hạn của việc nuôi cấy tế bảo rễ cà chua trên môi trường lỏng chứa muối khoáng, glucose, dịch chiết nam men.
Sau đó chứng minh có thé thay thé nước chiết nấm men bằng hỗn hợp loại vitamin B: Thiamin (Bì), Pyridoxin (Be), Nicotinic acid. Năm 1935, Thimann đã phát hiện ra Auxin (IAA) trong mô thực vật. Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng IAA cùng các vitamin bổ sung vào môi trương nuôi cấy đã thu được kết quả tốt. Năm 1939, cùng với Nobercourt, Gautheret đã thành công trong việc duy trì sự sinh trưởng trong thời gian dai của mô sẹo cà rốt (Daucus carota) trên môi trường rắn bằng thạch.
Những năm 1940, nhiều chất điều hoà sinh trưởng thuộc nhóm IAA được tông hợp thành công và được sử dụng nhiều trong nuôi cấy kết quả cho thấy chất này có tác dụng kích thích tạo mô sẹo, phân chia tế bào. Năm 1948, Steward xác nhận tác dụng của nước dừa trên mô sẹo cả rot. Trong thời gian này nhiều chat sinh trưởng nhân tạo đã được nghiên cứu và tổng hợp thành công như: a-Naphthalene acetic acid (NAA), 2,4 Dichlorphenoxy acetic acid (2,4D). Nhiều tác giả nhận thấy cùng nước dita, NAA va 2,4D đã giúp tao mô seo, gây phân chia tế bào ở nhiều đối tượng thực vật mà trước đó rất khó nuôi cấy.
Năm 1951, Skoog và Miller đã phát hiện ra các hợp chất có thể điều khiển sự nhân chdi.