CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI DÙNG TIN VÀ NHU CẦU TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN - TƯ LIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI DÙNG TIN VÀ NHU CẦU TIN 1. Khái niệm người dùng tin Người dùng tin hay còn gọi là người đọc/bạn đọc trong các cơ quan thông tin, thư viện là người sử dụng thông tin/tài liệu để thoả mãn nhu cầu của mình thông qua các loại hình và sản phẩm thông tin khác nhau. Người dùng tin, trước hết là những chủ thể có nhu cầu thông tin và tiếp nhận thông tin.
Người dùng tin là con người cụ thể trong một xã hội cụ thể (tham gia nhiều mối quan hệ đa dạng và phức tạp), có nhu cầu tin ( nằm trong hệ thống nhu cầu của người dùng tin), sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình (thông qua sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin). Người dùng tin và nhu cầu tin của luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố tác động trong các mối quan hệ của xã hội. Chính vì vậy, nhu cầu tin của người dùng tin luôn biến đổi. Nếu các yếu tố tác động đến nhu cầu tin của người dùng tin một cách tích cực thì nhu cầu tin của họ sẽ được kích thích và luôn phát triển cả về bề rộng và bề sâu của thông tin hay nói cách khác là cả về lượng và chất của thông tin.
Nhưng nếu nhu cầu tin của người dùng tin không được tác động một cách tích cực thì lại bị biến đổi theo chiều hướng ngược lại. Người dùng tin là một trong bốn yếu tố cấu thành các cơ quan thông tin, thư viện nhưng đồng thời chính họ là chủ thể để hoạt động thông tin, thư viện hướng tới phục vụ. Nhu cầu tin của người dùng tin quyết định đến nội dung vốn tài liệu và phương thức tổ chức các sản phẩm và dịch vụ của hoạt động thông tin thư viện. Trong hoạt đông thông tin thư viện, NDT là người tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện.
Như vậy NDT là đối tác, là khách hàng của hoạt động thông tin - thư viện. Theo quan điểm hiện đại NDT là “thượng đế” đối với người tham gia hoạt động thông tin - thư viện. Điều đó cũng có nghĩa là hoạt động thông tin - thư viện muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm tới NCT của NDT trong từng thời điểm cũng như địa bàn cụ thể. NCT của NDT là nguồn gốc nảy sinh hoạt động thông tin - thư viện.
Không có NDT sẽ không tồn tại hoạt động thông tin - thư viện. NDT là nhân tố điều chỉnh, định hướng cho hoạt động thông tin - thư viện. Khi sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin để tìm kiếm, tiếp cận thông tin phù hợp với NCT của mình, NDT sẽ phân tích, đánh giá chất lượng các sản phẩm, dịch vụ đó và thông tin được cung cấp. Ý kiến đánh giá của NDT trong quá trình sử dụng thông tin góp phần điều chỉnh hoạt động thông tin - thư viện theo hướng phù hợp và hiệu quả với NCT của NDT.
Do vậy, trong hoạt động thông tin - thư viện, việc nghiên cứu người dùng tin được tiến hành nghiên cứu thường xuyên để nắm bắt nhu cầu tin của họ và tìm ra các giải pháp phù hợp kích thích và thoả mãn tối đa nhu cầu tin cho người dùng tin là vấn đề rất quan trọng. Khái niệm nhu cầu và nhu cầu thông tin Theo từ điển Tiếng Việt thì nhu cầu là đòi hỏi của đời sống, tự nhiên và xã hội (Nhu cầu về ăn, ở, mặc. Nhu cầu về sách báo. Thỏa mãn nhu cầu về vật chất và văn hóa).
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt.
Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Nhu cầu là đòi hỏi khách quan của con người đối với một đối tượng nhất định, trong điều kiện nhất định, đảm bảo duy trì cho sự sống và sự phát triển của con người; nhu cầu là sự xuất hiện và kết hợp giữa các phản xạ không điều kiện từ môt trường tác động đến bộ não của chúng ta nên nó mang tính xã hội; nhu cầu là sản phẩm của xã hội, nhu cầu hình thành do kết quả tác động giữa hoàn cảnh bên ngoài và trạng thái bên trong của chủ thể; nhu cầu phát triển dưới sự chi phối trực tiếp của điều kiện kinh tế - xã hội - văn hóa ở một giai đoạn nhất định, tại một địa bàn cụ thể, trong hoàn cảnh khác nhau sẽ nảy sinh các nhu cầu và thỏa mản nhu cầu khác nhau. Nhu cầu tin (NCT) là một dạng nhu cầu đặc biệt của con người.
NCT là sự đòi hỏi khách quan của con người (Cá nhân, nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin để duy trì các hoạt động sống của con người. NCT nảy sinh trong quá trình con người thực hiện các loại hoạt động khác nhau. NCT của mỗi xã hội khác nhau; xã hội càng phát triển thì NCT của con người càng trở nên sâu sắc và phức tạp, xã hội ngày nay là xã hội phát triển nền kinh tế tri thức nên đòi hỏi thông tin ngày càng nhiều và sâu sắc hơn. Nhu cầu tin là một đòi hỏi khách quan của chủ thể đến việc đọc các tài liệu để đảm bảo quá trình sống của chủ thể.
Kết quả của nó là thu nhận những thông tin để thỏa mãn những hoạt động khác. Đây là là một loại nhu cầu tinh thần của con người. NCT xuất phát từ phản xạ định hướng và chịu sự chi phối của thị giác. Nếu không được thỏa mãn sẽ trở nên gay gắt, khi được thỏa mãn sẽ củng cố vững chắc hơn, để rồi lại phát triển cao hơn.
Mỗi cá nhân khác nhau có nhu cầu đọc và nhu cầu tin khác nhau, đó là tâm lý và nhân cách của mỗi con người cụ thể và mỗi nhóm người dùng tin cụ thể. Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin Con người nói chung và người dùng tin nói riêng là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, vì vậy họ chịu sự tác động của tất cả các yếu tố chủ quan và khách quan trong môi trường, hoàn cảnh cụ thể đó. Các yếu tố khách quan tác động đến nhu cầu tin của người dùng tin như môi trường sống (môi trường tự nhiên và môi trường xã hội); Môi trường nghề nghiệp; Lứa tuổi; Giới tính; Phương thức thoả mãn nhu cầu tin. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến nhu cầu tin của người dùng tin như trình độ văn hoá; Trình độ học vấn; Nhân cách.
Trong hoạt động thông tin - thư viện, để hiệu quả phục vụ ngày một nâng cao rất cần thiết phải chú trọng nghiên cứu đến các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến nhu cầu tin của người dùng tin. Trên cơ sở đó, các cơ quan thông tin thư viện tạo ra môi trường thông tin thân thiện - môi trường với các sản phẩm và dịch vụ thông tin phù hợp với từng đối tượng người dùng tin nhằm kích thích và thoả mãn tối đa nhu cầu thông tin cho họ. TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Sơ lược về sự ra đời và phát triển của Trường Ngày 1/4/1956, Trường Sơ cấp Lái tàu đầu tiên được thành lập dưới sự lãnh đạo của một số cán bộ tham gia kháng chiến trở về, đặt viên gạch nền móng đầu tiên để có Trường Đại học Hàng hải (ĐHHH) hôm nay.
Ngày 1/7/1956, Trường Sơ cấp Máy tàu được thành lập, đến năm 1957 hai trường sát nhập thành Trường Sơ cấp Hàng hải. Đầu năm 1959, Trường Sơ cấp Hàng hải được nâng lên thành Trường Trung cấp Hàng hải trực thuộc Tổng cục Giao thông Thuỷ bộ. Từ năm 1966 Trường Trung cấp Hàng hải mở hệ đại học đầu tiên gồm 4 chuyên ngành: Lái, Máy, Điện sử dụng và Điện thiết bị thuộc Khoa Đại học nằm trong Trường. Để tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ ngành giao thông đường thuỷ, ngày 23/7/1968, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định thành lập phân hiệu Đại học Giao thông Đường Thuỷ trên cơ sở các ngành đường thuỷ của Đại học Giao thông vận tải và Khoa Đại học của Trường Trung cấp Hàng hải.
Chỉ sau một thời gian, phân hiệu đã ổn định và thực hiện đào tạo 13 chuyên ngành thuộc 4 khoa chuyên môn: Hàng hải, Cơ khí, Vận tải và công trình. Ngày 27/10/1976, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 426/TTg nâng Trường Trung cấp Hàng hải lên thành Trường Đại học Hàng hải. Năm 1979, Thủ tướng Chính Phủ đã ký Quyết định 320/CP chuyển phân hiệu Đại học Giao thông Đường Thuỷ thành Trường Đại học Giao thông Đường thuỷ. Trong quá trình hình thành và phát triển, cả hai trường có những thành tích trong xây dựng cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.
Trên cơ sở sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học cho phù hợp với yêu cầu và khả năng phát triển của đất nước, ngày 2/3 năm 1984 Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ra Quyết định số 419 sát nhập Trường Đại học Giao thông Đường thuỷ và Trường ĐHHH thành trường ĐHHH Việt Nam ngày nay. Qua 55 năm xây dựng và trưởng thành, Nhà trường đã đào tạo cho đất nước hàng vạn cán bộ từ sơ cấp đến đại học và trên đại học, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển các ngành kinh tế biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng của Tổ quốc. Trường đã đào tạo ra những thuyền trưởng, máy trưởng giỏi, những sỹ quan hàng hải có đạo đức và tác phong công nghiệp, sẵn sàng tiếp nhận và vận hành những con tàu hiện đại, siêu lớn đi khắp năm châu, bốn biển, đem trí tuệ và nghị lực Việt Nam đến với bạn bè trên thế giới.