CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm sức khỏe 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Có nhiều nghiên cứu khác nhau về thị trường bảo hiểm sức khỏe và các nhân tố tác động đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm sức khỏe nói chung, thị trường bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ nói riêng. Anthony & Josept (2000), Xavier (2008) khi đề cập đến thị trường bảo hiểm sức khỏe đều nhấn mạnh đến phân tích hai vế cung và cầu của thị trường.
Các nghiên cứu về các nhân tố tác động vế cầu bảo hiểm thường tập trung vào các nhân tố kinh tế học cổ điển và nhân khẩu học như thu nhập của dân cư, giá cả của bảo hiểm sức khoẻ (phí bảo hiểm), phạm vi và quyền lợi bảo hiểm, niềm tin đối với các DNBH, kỳ vọng về chất lượng dịch vụ của người dân với các biến kiểm soát là tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ giáo dục hoặc số năm đi học, tôn giáo, việc làm (nghề nghiệp), khu vực làm việc (nhà nước, tư nhân, tự doanh/phi chính thức), nơi ở, số thành viên trong gia đình, tình trạng sức khỏe (Owusu-Sekyere & Chiaraah, 2014; Oraya, 2014; Nair, 2016; Vellakkal, 2013; Ibok, 2012; Costa & Garcia, 2003; Yadav & Sudhakar, 2018; Yamada và cộng sự, 2009; Lee và cộng sự, 2010; Liebenberg, Carson và Dumm, 2012a; Brownie và Kim, 1993; Ricardo, 2006). Nghiên cứu của Ahire & Rishipathak (2019) cũng tìm thấy các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến nhu cầu BHSK là nhận thức và hiểu biết về bảo hiểm sức khoẻ, thu nhập, trình độ học vấn, nhận thức về rủi ro sức khoẻ, tính sẵn có của các cơ sở y tế. Nghiên cứu của Costa & Garcia bổ sung thêm nhân tố chi tiền túi cho dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, số lần khám chữa bệnh và thái độ đối với rủi ro vào mô hình. Các nhân tố kinh tế học cổ điển và nhân khẩu học là những nhân tố rất cơ bản thường được sử dụng để phân tích thị trường cũng như nghiên cứu cung cầu các loại sản phẩm dịch vụ.
Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng vế cung bảo hiểm sức khỏe thường tập trung vào khả năng sinh lời, thương hiệu của DNBH, chiến lược phát triển của DNBH, chất lượng dịch vụ, tính linh hoạt của sản phẩm, mạng lưới phân phối, sự phức tạp của bảo hiểm, thủ tục chi trả, bồi thường bảo hiểm (Owusu & Chiaraah, 2014; Berry, 1995; Cummins & Doherty, 2002; Morrisey, 2001). Từ góc độ kinh tế vi mô, Berry (1995) chỉ ra rằng bối cảnh của công ty, tính linh hoạt của sản phẩm và sự phức tạp của bảo hiểm là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu bảo hiểm sức khoẻ. 7 Những phát hiện của các nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi Hong và Rios-Rull (2012), Liebenberg và cộng sự (2012b), Akotey, Sackey, Amoah và Manso (2013) và Bahloul, Hachicha và Bouri (2013) ủng hộ các kết quả trong nghiên cứu của Berry (1995). Các yếu tố tương tự cũng được sử dụng khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm Monternegro (Buric và cộng sự, 2017), nghiên cứu nhu cầu tái tục bảo hiểm tại Ấn độ (Bhat & Jain, 2007).
Mặc dù vậy, những mô hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết trên lại không thể giải thích cho mọi trường hợp, ví dụ điển hình là thị trường bảo hiểm sức khỏe ở Indonesia. Trong khi nền kinh tế đang có tốc độ phát triển tốt và trình độ giáo dục trong nước được cải thiện, nhu cầu bảo hiểm sức khỏe ở Indonesia đang giảm, trái với các bằng chứng được đưa ra trong các tài liệu nghiên cứu đã nói ở trên (Pitriyan & Siregar, 2013). Những phát hiện của Auerbach và Kotlikoff (1991) có thể giải thích sự khác biệt ở Indonesia bằng cách ghi nhận rằng, việc mua bảo hiểm hiếm khi tuân theo lợi ích. Họ đã đưa ra bằng chứng rằng nhu cầu bảo hiểm sức khỏe không phải lúc nào cũng bị tác động bởi các yếu tố kinh tế học và nhân khẩu học.
Mua bảo hiểm có thể không được thúc đẩy bởi kỳ vọng hợp lý; thay vào đó, nó được thúc đẩy bởi cảm xúc (hedonic utility), như lo lắng (Berekson, 1972), nhận thức về rủi ro (Laroche, McDougall, Bergeron, & Yang, 2004), hoặc có thể là lạc quan (Coelhoe & Maza, 2012; Memarista, 2016). Trong khi đó, Outreville (2013) cho rằng hành vi ghét rủi ro và trình độ học vấn là những yếu tố chính tạo ra nhu cầu bảo hiểm sức khỏe. Điều này phù hợp với kết luận của Eling và Kochanski (2013), người phỏng đoán rằng nghiên cứu bảo hiểm trên các cá nhân là rất khan hiếm. Các nghiên cứu hành vi cho rằng các học giả phải đánh giá các yếu tố tâm lý để khám phá sự bất thường trong các hoạt động kinh tế khi mà lý thuyết kỳ vọng hợp lý hay những lý thuyết kinh tế học cổ điển không giải thích được.
Trong hiện tượng bảo hiểm của Indonesia, ví dụ điển hình có nghiên cứu của Rabin và Thaler (2001) cho rằng người ghét rủi ro (risk aversion) có thể giải thích sự bất thường trong thị trường bảo hiểm ở chỗ mọi người có xu hướng mua bảo hiểm khi họ không nên mua và ngược lại, có xu hướng từ chối khi họ thực sự có nhu cầu. Zelizer (1978) phỏng đoán rằng mọi người có xu hướng mua bảo hiểm y tế vì giá trị của cái chết. Điều này ngụ ý rằng nhu cầu của bảo hiểm y tế có thể tăng lên nếu mọi người bắt đầu lo sợ cho cuộc sống của họ. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nyman (1999), người coi giá trị của sức khỏe là động lực chính để mua bảo hiểm y tế.
Sử dụng lý thuyết truy cập, Nyman (1999) nói rằng bảo hiểm là phương tiện để đạt được sức khỏe tốt hơn. Murphy và Topel (2005) đi đến một kết luận 8 tương tự, đó là mọi người sẽ trả tiền cho các chương trình như vậy để kỳ vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn và đạt được tuổi thọ như mong muốn. Điều này cũng phù hợp với Hall và Jones (2007) và Baicker và cộng sự (2012) nói rằng mọi người có xu hướng tiêu tiền của họ cho sức khỏe chỉ vì mục đích kéo dài cuộc sống. Nepomuceno và Porto (2010) đã sử dụng các giá trị sức khỏe như cầu nối hoặc trung gian giữa thái độ và ý định.
Nghiên cứu đã cho thấy thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và giá trị sức khoẻ có tác động đến việc tham gia bảo hiểm sức khoẻ. Một đóng góp khác của nghiên cứu này là vai trò của sự nhận thức về lợi ích và nhận thức về rủi ro đối với thái độ của một người về ý định mua bảo hiểm sức khỏe. Theo định nghĩa, Thái độ đối với hành vi (ATB) trong Lý thuyết hành vi dự định (TPB) là mức độ mà hiệu suất của một hành vi nhất định được đánh giá tích cực hoặc tiêu cực. Định nghĩa này cũng được trình bày trong các tài liệu nghiên cứu khác, như của Ejye Omar và Owusu-Frimpong (2007), Olola, Narus, Nebeker, Poynton, Hales, Rowan và Evans (2010), và Abbring, Chiappori và Pinquet (2003) ).
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính hữu ích và nhận thức về thái độ, Ehrlich và Becker (1972) kết luận rằng tính hữu ích của thông tin có thể ảnh hưởng đến việc ra quyết định của một người. Ngoài ra, giải thích cho việc bổ sung nhận thức về thái độ đối với việc mua bảo hiểm dựa trên đề xuất của Tennyson (2011), người cho rằng sự thiếu hiểu biết về tài chính là yếu tố chính khiến mọi người từ chối mua bảo hiểm. Không có kiến thức tài chính, mọi người không biết tính hữu dụng của bảo hiểm, và vẫn bàng quan trong việc mua bảo hiểm. Điều này có thể giải thích thái độ đối với rủi ro được tìm thấy bởi Schwarcz (2010), cụ thể tác giả cho rằng quyết định về bảo hiểm là một trong những khó khăn nhất mà người tiêu dùng phải đối mặt.
Chúng yêu cầu các dự đoán về khả năng xảy ra và mức độ của các sự kiện trong tương lai rất khó xảy ra và phần lớn là không quen thuộc. Đối mặt với những quyết định phức tạp như vậy, không có gì ngạc nhiên khi người tiêu dùng thường xuyên mắc sai lầm. Đồng thời, bảo hiểm là một sản phẩm phức tạp và đầy cảm xúc, và những giải thích đơn giản về hành vi của người tiêu dùng có nguy cơ làm xói mòn một số giá trị đích thực mà bảo hiểm cung cấp cho người tiêu dùng. Chủ nghĩa gia đình theo chủ nghĩa tự do, khuyến khích các quyết định bảo hiểm được cho là hợp lý trong khi vẫn duy trì sự lựa chọn, có tiềm năng chưa được khám phá để điều hướng các lợi ích cạnh tranh này.
Ngoài ra, có những yếu tố có thể ảnh hưởng đến thái độ đối với việc mua bảo hiểm y tế trong các mối quan hệ nhân quả, là nhận thức về lợi ích và nhận thức về rủi ro. Nhận thức về lợi ích đề cập đến mức độ mà một người tin rằng tối ưu hóa một lợi ích cụ thể sẽ nâng cao thái độ của họ đối với một hành vi (ví dụ như mua bảo hiểm sức 9 khỏe) (Ehrlich & Becker, 1972; Laroche và cộng sự, 2004; Liebenberg và cộng sự 2012a). Trong khi đó, rủi ro trong tương lai có thể được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng tối ưu hóa một tiện ích cụ thể sẽ bảo vệ họ khỏi rủi ro. Ví dụ, mua bảo hiểm sức khỏe có thể làm giảm gánh nặng tài chính khi có nguy cơ bị bệnh.
Nghiên cứu về Lý thuyết hành vi dự định (TPB) đã ghi nhận ảnh hưởng đáng kể của tính hữu ích đối với ATB. Chẳng hạn, Brahmana và Brahmana (2013); Igbaria, Schiffman, & Wieckwowski (1994); Saadé và Bahli (2005); Liaw và Huang (2013) cho rằng nhận thức về tính hữu dụng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến ATB của một cá nhân. Điều này ngụ ý rằng sự nhận thức về lợi ích là một yếu tố của ATB. Kaplan và cộng sự (1974) cho thấy, rủi ro trong tương lai có vai trò quan trọng trong tâm lý con người liên quan đến quyết định mua bảo hiểm sức khỏe.
Điều này phù hợp với Berekson (1972), người giải quyết vai trò của sự lo lắng trong cuộc sống đối với việc mua bảo hiểm. Các nhà nghiên cứu khác, chẳng hạn như Laroche và cộng sự (2004) và Liebenberg và cộng sự (2012a), đã cung cấp những phát hiện tương tự, trong đó chỉ ra rằng thái độ của một người đối với việc mua bảo hiểm sức khỏe phụ thuộc vào nhận thức về rủi ro.