Đặt vấn đề Chúng ta biết rằng hầu hết các doanh nghiệp vận hành đều chú ý sử dụng lợi ích từ việc vay nợ. Trong điều kiện hoạt động bình thường, tài trợ bằng nợ có thể giúp doanh nghiệp gia tăng khả năng sinh lợi, thế nhưng nhà đầu tư nào cũng biết đến mặt trái của nợ. Khi mọi thứ không diễn biến như các kế hoạch, thì nợ có thể khiến doanh nghiệp gặp vấn đề nghiêm trọng. Thế còn vị thế tiền mặt của doanh nghiệp thì sao? Quá nhiều nợ chắc chắn là một điều không tốt, liệu điều đó có đúng với tiền mặt.
Tiền mặt là tài sản có tính thanh khoản cao nhất và là thước đo khả năng của công ty để thanh toán các khoản phải trả của công ty như trả cho người lao động, trả tiền mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, chi trả cổ tức và chi trả các chi phí cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Tuy nhiên để có tiền trang trải các chi phí trên buộc các doanh nghiệp phải có lợi nhuận, nhưng không phải lúc nào lợi nhuận đạt được cũng thu được hết bằng tiền mặt, trong thực tế lợi nhuận đạt được còn tồn động lớn trong các khoản phải thu. Thực tiễn kinh doanh đã chứng kiến rất nhiều công ty khi tính toán trên sổ sách thì có lãi, nhưng vì không đủ tiền mặt để thanh toán các khoản công nợ tới hạn nên bị phá sản. Vì vậy trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường nắm giữ một lượng tiền mặt nhất định để đề phòng công ty gặp phải những vấn đề tài chính phải giải quyết ngay lập tức nhằm tránh tình trạng mất khả năng thanh toán gây ảnh hưởng đến hoạt động của công ty.
Theo kết quả nghiên cứu tỷ lệ nắm giữ tiền mặt các công ty ở Việt Nam của Phạm Ngọc Thiện (2014) thì tỷ lệ nắm giữ tiền mặt là 16,661% và của Phạm Hữu Tín (2014) là 13,69%. Điều này cho thấy rằng việc nắm giữ một lượng tiền mặt lớn là không hiệu quả bởi vì nó tạo ra rất ít hoặc không tạo ra được thu nhập cho công ty. Do đó các công ty Việt Nam cần phải xác định cho mình một tỷ lệ nắm giữ tiền mặt tối ưu. Nhận thấy được vấn đề đó, bài nghiên cứu này tác giả sẽ “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TP.
Tính cấp thiết của đề tài Dường như tiền mặt luôn là một cái gì đó mà ai cũng thích sở hữu, doanh nghiệp cũng vậy. Thế nhưng việc doanh nghiệp có quá nhiều tiền mặt liệu có phải là một điều tốt? Những năm trở lại đây với tình trạng suy thoái của nền kinh tế thế giới cũng đã có một phần làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của Việt Nam. Với tình hình đó nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã lâm vào tình trạng khó khăn và đã có nhiều doanh nghiệp tiến hành giải thể. Vì vậy buộc các nhà quản trị doanh nghiệp phải cân nhắc, xem xét mọi quyết định để đạt được hiệu quả cao nhất, trong đó việc nắm giữ tiền mặt cũng được các nhà quản trị quan tâm.
Nếu nắm giữ tiền mặt nhiều quá sẽ ra gây ứ động vốn và hiệu quả kinh doanh sẽ thấp đi ngược lại nếu nắm giữ tiền mặt quá ít sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam nhận biết được từng nhân tố ảnh hưởng và giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn trong việc nắm giữ lượng tiền mặt để mang lại hiệu quả cao nhất. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn nghiên cứu nhằm giải quyết các mục tiêu sau: - Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty thông qua việc phân tích số liệu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TP. - Dựa trên những kết quả nghiên cứu có được, đưa ra một số giải pháp cho các nhà quản trị công ty trong việc nắm giữ tiền mặt.
Câu hỏi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu nhằm trả lời cho các câu hỏi sau: - Các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty? - Các nhân tố này có mối quan hệ cùng chiều hay ngược chiều với việc nắm giữ tiền mặt của công ty? - Các khuyến nghị nào cho các nhà quản trị tài chính đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TP. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TP. Phạm vi nghiên cứu bao gồm: các công ty phi tài chính được niêm yết trên thị trường chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn từ năm 2011 – 2013. Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, dựa trên mô hình nghiên cứu của Kafayat và cộng sự (2014), tham khảo thêm mô hình của Ogundipe và cộng sự (2012) và kết hợp thêm một số biến mới để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty.
Số liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của 237 công ty phi tài chính đã được kiểm toán niêm yết trên thị trường chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn từ năm 2011 – 2013. Thông qua phần mềm SPSS 20.0 để thống kê mô tả, kiểm tra mối tương quan và hồi quy tuyến tính đa biến các biến trong mô hình nghiên cứu. Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy đa biến thông qua Hệ số xác định R2 và R2 hiệu chỉnh. Kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô hình.
Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số phóng đại phương sai VIF (Variance Inflation Factor). Kiểm định tự tương quan thông qua hệ số Durbin-Watson. Diễn giải ý nghĩa các hệ số hồi quy và đánh giá ý nghĩa của từng biến độc lập bằng cách sử dụng giá trị Sig so với mức ý nghĩa thống kê. Ý nghĩa đề tài nghiên cứu Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TP.
Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của công ty sao cho cân bằng giữ lợi ích và chi phí của việc nắm giữ tiền mặt nhằm mang lại hiệu quả tốt hơn. Kết cấu luận văn Đề tài nghiên cứu gồm có năm chương. Chương một giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu. Chương hai trình bày cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước đây.
4 Chương ba phương pháp nghiên cứu. Chương bốn trình bày kết quả nghiên cứu thu được từ quá trình phân tích, xử lý số liệu và chạy hồi quy tuyến tính đa biến. Chương năm ghi nhận những kết luận quan trọng từ đề tài nghiên cứu, đồng thời nêu lên những hạn chế và gợi ý hướng mở rộng cho đề tài nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương này tác giả sẽ trình bày khái niệm cũng như là các cơ sở lý thuyết về việc nắm giữ tiền mặt, các động cơ nắm giữ tiền mặt của các công ty.
Đồng thời, chương hai cũng trình bày những nghiên cứu thực nghiệm trước đây tại các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam về các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt và các kết quả thu được từ các nghiên cứu đó. Từ các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm được trình bày, tác giả tổng hợp lại rút ra các nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty, sau đó xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt. Khái niệm tiền mặt Theo Đinh Tuấn Kiên (2012) thì Tiền mặt theo nghĩa hẹp, đó là tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành ra và nằm trong tay công chúng hay ngoài hệ thống ngân hàng. Còn theo nghĩa rộng nhất, tiền mặt có thể được hiểu là những thứ có thể sử dụng trực tiếp để thanh toán các giao dịch và bao gồm cả tiền gửi ngân hàng.
Như vậy, trong trường hợp này khái niệm tiền mặt được dùng để chỉ dạng có khả năng thanh toán cao nhất của tài sản, bao gồm các đồng tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành ra và được công chúng giữ để chi tiêu, tiền gửi ở tài khoản vãng lai hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, có thể rút ra bất cứ lúc nào bằng cách viết séc Theo nghị định số 222/2013/NĐ-CP định nghĩa như sau: Tiền mặt là tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà Nước phát hành. Còn trong doanh nghiệp thì tiền mặt của các công ty được bao gồm tiền mặt tồn quỹ và tiền gửi ngân hàng. Các động cơ nắm giữ tiền mặt Theo nghiên cứu của Bates và cộng sự (2009) đã chỉ ra các động cơ nắm giữ tiền mặt của các công ty bao gồm: động cơ giao dịch, động cơ phòng ngừa, động cơ thuế và động cơ đại diện. Động cơ giao dịch Mục tiêu chính của động cơ giao dịch là dựa trên chi phí chuyển đổi từ tài 6 sản thành tiền mặt của Kynes (1936), Các mô hình cổ điển về tài chính chỉ ra các nhu cầu tối ưu cho tiền mặt khi một công ty phải gánh chịu các chi phí giao dịch liên quan đến chuyển đổi tài sản tài chính không bằng tiền thành tiền mặt và sử dụng tiền mặt để thanh toán.
Vì có các lợi thế kinh tế từ quy mô với động cơ giao dịch nên các công ty lớn nắm giữ tiền mặt ít hơn. Có rất nhiều bằng chứng về sự tồn tại của các lợi ích kinh tế từ quy mô này. Động cơ phòng ngừa Ngoài ra Keynes (1936) cũng đưa ra động cơ phòng ngừa liên quan đến việc nắm giữ tiền mặt. Các công ty giữ tiền mặt để đối phó tốt hơn với các cú sốc bất lợi khi tiếp cận thị trường vốn rất tốn kém.
Các công ty có dòng tiền rủi ro hơn và khó tiếp cận nguồn vốn bên ngoài thì nắm giữ tiền mặt nhiều hơn. Động cơ phòng ngừa cũng cho thấy rằng các công ty có các cơ hội đầu tư tốt hơn thì nắm giữ tiền mặt nhiều hơn bởi vì các cú sốc bất lợi và kiệt quệ tài chính có thể tốn kém nhiều hơn cho họ.