CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY 1. CẤU TRÚC SỞ HỮU CỦA CÔNG TY 1. Khái niệm Cấu trúc sở hữu được hiểu là sự phân bổ vốn chủ sở hữu theo quyền, có mối tương quan tỷ lệ với vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi các chủ sở hữu. Cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc điều hành công ty do nó tác động đến việc ra quyết định của các nhà quản lý [6].
Các thành phần của cấu trúc sở hữu tác động đến thành quả hoạt động của công ty như tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, sở hữu của ban điều hành, kiêm nhiệm chức danh chủ tịch Hội đồng quản trị - Tổng giám đốc, mức độ tập trung sở hữu, tỷ lệ sở hữu của nhà nước, tỷ lệ nữ trong ban điều hành công ty, phẩm chất của người điều hành là các yếu tố được quan tâm lớn nhất. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này lên thành quả hoạt động của các công ty ở từng quốc gia cụ thể có những kết quả khác biệt. Theo quyền kiểm soát hay mức độ tập trung, cấu trúc sở hữu được phân thành 2 loại là cấu trúc sở hữu tập trung và cấu trúc sở hữu phân tán - Cấu trúc sở hữu tập trung là cấu trúc trong đó một cá nhân hoặc tổ chức hoặc một nhóm cá nhân liên quan sở hữu phần lớn vốn chủ sở hữu của một công ty và có quyền chi phối các quyết định của công ty. Cấu trúc tập trung thường được xem là hệ thống nội bộ.
Những cổ đông lớn thường kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức công ty vận hành bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều hành. Cổ đông lớn có thể không sở hữu toàn bộ vốn Luan van 6 nhưng có quyền biểu quyết đáng kể nên vẫn có thể được kiểm soát công ty, giảm thiểu được tình trạng sai phạm hay gian dối trong quản trị và điều hành. - Cấu trúc sở hữu phân tán là cấu trúc trong đó không có cá nhân hoặc nhóm các cá nhân, tổ chức nào sở hữu đa số vốn của công ty và có quyền chi phối công ty. Đối với hình thức cấu trúc này, công ty huy động vốn bằng cách bán cổ phần thường trên thị trường vốn.
Mỗi cổ đông sở hữu một số cổ phần công ty, quyền kiểm soát hoạt động công ty do ban giám đốc nắm giữ. Các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm tra chặt chẽ hoạt động và không muốn tham gia điều hành công ty bởi vậy họ được gọi là người bên ngoài và cấu trúc phân tán thường được gọi là hệ thống bên ngoài. Theo liên kết sở hữu Một công ty còn có thể được sở hữu và kiểm soát bởi 2 nhóm người khác nhau. Nó tạo ra 2 loại cấu trúc sở hữu là cấu trúc sở hữu chéo và cấu trúc kim tự tháp, thường thấy ở các công ty thành viên của tập đoàn hoặc các nhóm công ty.
Sở hữu kim tự tháp là hình thức sở hữu bởi một người kiểm soát thực sự thông qua nhiều tầng nấc sở hữu tại các công ty khác. Chẳng hạn, A nắm 20% vốn của B, B lại nắm 10% vốn của C. A được gọi là chủ sở hữu sau cùng của C, vì A kiểm soát C thông qua B. A có thể tác động lên một quyết định nào đó của C nhưng chỉ chịu 2% (=20%x10%) mức độ ảnh hưởng (hoặc thiệt hại) của quyết định đó.
A có thể vì tư lợi mà ra những quyết định có lợi cho mình nhưng có hại cho công ty C, trong khi chỉ chịu thiệt hại không đáng kể trên phần vốn góp của mình. Cấu trúc sở hữu chéo, xuất hiện khi A kiểm soát B (trong ví dụ trên) nhưng trong trường hợp này, B cũng nắm quyền kiểm soát lại A, mặc dù với tỉ lệ sở hữu chéo không cao, nhưng sự ràng buộc sở hữu chéo này làm gia tăng mức độ liên kết của A và B trong việc kiểm soát C. Nó giúp các công ty gia tăng mức độ liên kết, cam kết và hợp tác thực hiện chiến lược, nhưng nếu năng lực kiểm soát việc thực thi pháp luật không cao có thể sẽ dẫn đến tình Luan van 7 trạng các công ty liên kết vi phạm quyền lợi cổ đông nhỏ. Các hình thức cấu trúc sở hữu Để công ty hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải xác định được cơ cấu sở hữu của công ty, từ đó hoạch định hệ thống quản lý phù hợp với từng hình thức sở hữu.
Cơ cấu sở hữu của công ty được phân định thành các hình thức cơ bản như sau1: a. Hình thức cấu trúc sở hữu toàn diện 100% vốn chủ sở hữu Các đơn vị được hình thành theo hình thái sở hữu này phụ thuộc hoàn toàn vào công ty mẹ, tuân thủ hoàn toàn các quyết định của công ty mẹ mà không được phản kháng. Các phòng ban chức năng của các đơn vị trực thuộc trong hình thái sở hữu này thực chất là “cánh tay nối dài” của các phòng ban công ty mẹ. Việc quản lý vốn sở hữu hoàn toàn trực tiếp do bộ máy quản lý của công ty mẹ thực hiện.
Hình thức cấu trúc sở hữu toàn diện có phân định Cấp độ quản lý giảm dần đối với hình thái sở hữu toàn diện có phân định. Về nguyên tắc, trong hình thái sở hữu này, công ty con cũng vẫn phải tuân thủ hoàn toàn các quyết định của công ty mẹ, tuy nhiên cách thức quản lý đối với công ty con là thông qua người đại diện vốn chủ sở hữu của công ty mẹ. Mỗi đại diện này sẽ được ủy quyền quản lý vốn với tỷ lệ khác nhau tương ứng với tỷ lệ biểu quyết khác nhau. Do đó, để thi hành các quyết định của công ty mẹ tại công ty con, phải thông qua quyết định của Chủ tịch công ty hoặc Hội đồng thành viên của công ty con.
Hình thức sở hữu liên kết vốn có hình thành pháp nhân Đối với hình thái sở hữu liên kết có hình thành pháp nhân, mức độ quản lý và tầm ảnh hưởng của công ty mẹ đối với công ty con còn phụ thuộc vào 1 http://luatsurieng.vn/luat-su-va-cong-dong/hoach-dinh-co-cau-so-huu-doanh-nghiep.html Luan van 8 lượng vốn (cổ phần) chi phối của công ty mẹ tại công ty con. Tỷ lệ vốn sở hữu của công ty mẹ càng cao thì việc áp đặt các quyết định của công ty mẹ diễn ra càng dễ dàng và ngược lại. Cũng giống như hình thái sở hữu thứ hai, công ty mẹ chỉ có thể thông qua người đại diện vốn góp để thực thi quyết định của mình tại công ty con. Mức độ phân cấp quản lý giữa công ty mẹ và công ty con đã rõ ràng hơn, và công ty con không còn hoàn toàn lệ thuộc vào công ty mẹ như hai hình thái sở hữu nêu trên nữa.
Hình thức sở hữu liên kết không hình thành pháp nhân Trong hình thức này, không tồn tại một pháp nhân có cơ cấu tổ chức ổn định do công ty mẹ nắm giữ vốn hoặc cổ phần chi phối mà chỉ đơn thuần là một dự án trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các bên. Do đặc tính ổn định không cao cũng như khoảng thời gian tồn tại nhất định của hình thái sở hữu này, do đó mức độ quản lý của công ty mẹ đối với hình thái này chỉ dựa trên thỏa thuận của các bên về tỷ lệ hợp tác kinh doanh và phân chia lợi nhuận cũng như trách nhiệm quản lý phụ trách của dự án. Hình thức sở hữu không liên kết Các nhà đầu tư (bao gồm cả công ty mẹ đã đề cập ở trên) thực hiện các hạng mục khác nhau trong cùng một dự án và thực hiện phân chia lợi nhuận theo phần. Các bên tự chịu trách nhiệm theo phần góp vốn của mình và hưởng lợi trong phạm vi số vốn đã góp.
Trong trường hợp này, công ty phải lựa chọn phương pháp quản lý nguồn vốn sở hữu phù hợp để không những tránh thất thoát mà còn tạo ra lợi nhuận cho công ty. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY 1. Khái niệm “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định, nó biểu hiện mối quan hệ Luan van 9 tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó”[5, tr. Như vậy, hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa “Kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”.
Hiệu quả hoạt động của công ty thường được xem xét trên hai góc độ là hiệu quả kinh doanh và hiệu quả tài chính. Trong đó, hiệu quả kinh doanh so sánh trên cơ sở đầu ra (sản phẩm, dịch vụ) với đầu vào (vốn, chi phí, lao động, vật liệu,…) còn hiệu quả tài chính là hiệu quả gắn với cơ cấu nguồn vốn, chính sách tài trợ (vay bao nhiêu, nguồn vốn ở đâu) sao cho chi phí sử dụng vốn bình quân là thấp nhất. Hiệu quả được xem xét giữa mối quan hệ đầu ra là kết quả của doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm…) với đầu vào là các nguồn lực sử dụng (tài sản, vốn chủ sở hữu, nguồn nhân lực…)[13]. Hiệu quả kinh doanh thể hiện quan hệ so sánh giữa kết quả (đầu ra) và nguồn lực hoặc chi phí (đầu vào) để tạo ra kết quả trong một thời kỳ và được tính như sau Kết quả (Lợi nhuận, doanh thu, …) Hiệu quả = Phương tiện (CP, TS, Doanh thu, VCSH, …) 1.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty Để đánh giá hiệu quả hoạt động công ty, việc sử dụng các chỉ tiêu tài chính là rất cần thiết. Để phân tích hiệu quả kinh doanh của một công ty, ta tiến hành phân tích ở 3 khía cạnh: phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, phân tích tốc độ luân chuyển vốn lưu động, phân tích khả năng sinh lời. Trong đó, việc phân tích khả năng sinh lời phản ánh hiệu quả tổng hợp của công ty. Do đó để phân tích hiệu quả kinh doanh của một công ty, ta sử dụng các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của công ty: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE), tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE).