CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Theo Nguyễn Năng Phúc (2013) thì “Hiệu quả tài chính doanh nghiệp dùng để chỉ hiệu quả của việc huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn trong quá trình kinh doanh. Trong khi đó, hiệu quả quản lý, sử dụng vốn thuộc về hiệu quả kinh doanh. Hay nói một cách khác, bản chất của hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất. Hiệu quả kinh doanh còn thể hiện sự vận dụng khéo léo của các nhà quản trị doanh nghiệp giữa lý luận và thực tế nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công để nâng cao lợi nhuận. Vậy hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực; tài chính của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất”. Hiệu quả tài chính là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh.
Theo công thức toán học, hiệu quả tài chính được tính như sau: 𝐾ế𝑡 𝑞𝑢ả đầ𝑢 𝑟𝑎 𝐻= 𝑌ế𝑢 𝑡ố đầ𝑢 𝑣à𝑜 Trong đó: - H : hiệu quả tài chính - Kết quả đầu ra : Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ, tổng lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. - Yếu tố đầu vào : Tổng tài sản bình quân, tổng nguồn vốn chủ sở hữu bình quân, tổng tài sản dài hạn bình quân, tổng tài sản ngắn hạn bình quân. Hoặc các chi phí, giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả kinh doanh… 4 Công thức trên phản ánh cứ 1 đồng chi phí đầu vào (nhân công, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị,.) thì tạo ra được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra như lợi nhuận, doanh thu cho doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh, chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả tài chính của doanh nghiệp càng tốt. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính Có rất nhiều các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp, nhưng các chỉ tiêu thường được sử dụng nhất trong các nghiên cứu có thể chia thành hai nhóm chính: Nhóm chỉ tiêu thứ nhất, các hệ số giá trị kế toán, còn gọi là các hệ số về lợi nhuận; Nhóm chỉ tiêu thứ hai, các hệ số giá trị thị trường, còn gọi là các hệ số về tăng trưởng tài sản.
Các hệ số về lợi nhuận bao gồm lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi suất cổ tức - DY (Ming & Gee 2008; Ongore 2011), lợi nhuận trên doanh thu - ROS (Le & Buck 2011; Hart và Ahuja,1996; Liargovas và Skandalis, 2008), hoặc lợi nhuận trên vốn đầu tư - ROI (Shah, Butt & Saeed 2011). Đối với nhóm hệ số giá trị thị trường, hai hệ số Marris và Tobin’s Q rất thông dụng như là công cụ đánh giá tốt về hiệu quả tài chính doanh nghiệp (Tian, L & Estrin, S 2008); trong đó hệ số Marris được tính là tổng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu so với giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu, và hệ số Tobin’s Q được tính là giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng với giá trị sổ sách các khoản nợ phải trả so với giá trị sổ sách của tổng tài sản. Do đó, các hệ số này chỉ có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả của phần vốn sở hữu của Nhà nước, bởi vì nó có thể phản ánh trực tiếp mức độ tăng trưởng giá trị vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn doanh nghiệp. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Để đánh giá hiệu quả sử dụng các tài sản đã đầu tư, sử dụng công thức : 𝐿ơ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROA = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản phản ánh cứ một trăm đồng tài sản hiện có trong doanh nghiệp mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Dựa vào chỉ số ROA, nhà quản lý doanh nghiệp sẽ biết được số vốn bỏ ra để đầu tư và lợi nhuận ròng đem 5 về là bao nhiêu. Chỉ số ROA càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sắp xếp, phân bổ và quản lý, sử dụng tài sản càng hiệu quả đồng thời hiệu quả tài chính càng cao (Phạm Tùng Sơn, 2015). Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) ROS thể hiện hiệu quả việc quản lý kiểm soát chi phí của doanh nghiệp, chỉ tiêu này được xác định như sau: 𝐿ơ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROS = 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu thể hiện trong một trăm đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận. Vì vậy, chỉ số ROS rất quan trọng để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Nhìn vào chỉ số ROS càng cao thì khả năng doanh nghiệp kinh doanh tốt, hiệu quả quản lý chi phí tốt, hiệu quả tài chính càng cao. Doanh nghiệp trong tương lai có thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh (Phạm Tùng Sơn, 2015). Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE đo lường khả năng sử dụng vốn hiệu quả của công ty, chỉ tiêu này được xác định bằng công thức: 𝐿ơ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROE = 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu thể hiện trong một trăm đồng vốn chủ sở hữu đem đầu tư mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROE càng cao thì khả năng sử dụng vốn càng có hiệu quả đồng thời mang lại hiệu quả tài chính tốt (Phạm Tùng Sơn, 2015).
Tỷ suất cổ tức (DY) Tỷ suất cổ tức là một tỷ số tài chính được sử dụng để xác định mức cổ tức nhận được trên 1 đồng nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra để mua cổ phần đó. 𝐶ổ 𝑡ứ𝑐 𝑚ỗ𝑖 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛 DY = 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑚ỗ𝑖 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛 Tỷ suất cổ tức càng cao thì cho thấy các nhà đầu tư càng nhận được thêm nhiều cổ tức với 1 đồng đã bỏ ra để mua cổ phiếu đó. Chứng tỏ, công ty đang hoạt động hiệu quả và các nhà đầu tư, chủ sở hữu là những người được hưởng lợi nhiều nhất (Phạm Tùng Sơn, 2015). Tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư (ROI) 6 ROI thường được doanh nghiệp sử dụng để đo lường hiệu quả của các hoạt động đầu tư.
𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 ROI = 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí đầ𝑢 𝑡ư Trong đó: - Lợi nhuận ròng (hay còn gọi là lợi nhuận sau thuế) = Tổng doanh thu – Chi phí đầu tư. - Chi phí đầu tư = Chi phí cố định + chi phí biến đổi Chỉ số ROI giúp đánh giá mức độ lợi nhuận thu được so với đồng vốn đầu tư ban đầu bỏ ra. ROI càng cao và tăng nhanh chứng tỏ nhà đầu tư hay doanh nghiệp càng đầu tư một cách hiệu quả, sớm thu hồi được vốn (Phạm Tùng Sơn, 2015). Hệ số Marris và Tobin’s Q - Công thức tính hệ số Marris : 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑣ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 Marris = 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑣ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 - Công thức tính hệ số Tobin’s Q : 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑣ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 + 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐á𝑐 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝑛ợ 𝑝ℎả𝑖 𝑡𝑟ả Tobin’s Q = 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Hệ số Q của Tobin thể hiện mối quan hệ giữa định giá thị trường và giá trị nội tại.
Nói cách khác, nó là một phương tiện để ước tính liệu một doanh nghiệp hoặc thị trường nhất định được định giá quá cao hay bị định giá thấp. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 1.1 Quy mô doanh nghiệp (SIZE) Quy mô doanh nghiệp được đo bằng nhiều thước đo khác nhau như: tổng số lao động, tổng doanh thu, tổng tài sản, tổng nguồn vốn. Quy mô tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động cũng như quyền lợi của các cổ đông (Isik và Tasgin, 2017). Các công ty lớn hơn có cơ hội tốt hơn để nhận được các khoản tín dụng từ các tổ chức tài chính.
Họ có thể được vay với lãi suất rẻ hơn, vì họ có giá trị tín dụng tốt hơn và khả năng phá sản thấp (Amalendu, 2010). Khi doanh nghiệp có quy mô lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nguồn lực lớn, tiềm lực tài chính mạnh, uy tín doanh nghiệp cao, tính thanh khoản cao, khả năng 7 quản trị tốt, kiểm soát chi phí tốt. Do vậy, lợi nhuận tăng dẫn đến hiệu quả tài chính cũng tăng theo chiều hướng tăng dần quy mô (Liargovas và Skandalis, 2008).2 Đòn bẩy tài chính (DFL) Theo Rehman (2013) Đòn bẩy tài chính là mức độ sử dụng vốn vay trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay thu nhập trên một cổ phần thường (EPS). Đòn bẩy tài chính chính là sự kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong công việc điều hành chính sách tài chính của doanh nghiệp.
Đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu. Ngược lại, đòn bẩy tài chính sẽ thấp khi tỷ trọng nợ phải trả nhỏ hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu. Đòn bẩy tài chính là một trong những quyết định quan trọng của nhà quản lý tài chính vì nó ảnh hưởng đến lợi ích, rủi ro của chủ sở hữu cũng như giá trị thị trường của công ty (Nag và Sirmans, 2000).3 Khả năng thanh toán ngắn hạn (QR) Khả năng thanh toán ngắn hạn thấp, kéo dài thường xuất hiện dấu hiệu rủi ro tài chính, nguy cơ phá sản có thể xảy ra. Tuy nhiên, nếu công ty duy trì khả năng thanh toán ngăn hạn quá cao cũng có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính cụ thể: Khi khả năng thanh toán ngắn hạn cao thì đồng nghĩa với việc công ty hoặc đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn như tiền, hàng tồn kho, phải thu khách hàng (điều này làm tăng chi phí hoạt động như chi phí cơ hội của việc giữ tiền, chi phí lưu kho, chi phí thu nợ.