Chương 1 của nghiên cứu này tập trung vào việc giải thích các khái niệm liên quan đến nhận thức của sinh viên đại học về văn hóa Nhật Bản trong ngành Sư phạm Nhật. Bên cạnh đó tác giả cung cấp một cơ sở lý luận cho việc hiểu rõ hơn về quá trình nhận thức và tác động của văn hóa đối với sinh viên đại học. Chƣơng 2: Thực trạng nhận thức của sinh viên ngành Sƣ phạm Nhật tại Trƣờng Đại học Hải Phòng về văn hóa Nhật Bản. Chương 2 sẽ phân tích thực trạng nhận thức của sinh viên Trường Đại học Hải Phòng về văn hóa Nhật Bản, với đối tượng là các sinh viên ngành Sư phạm Nhật, sinh viên học ngôn ngữ 2 là tiếng Nhật.
Cùng với đó, tác giả cũng sẽ tiến hành phỏng vấn những sinh viên đã tốt nghiệp để cho thấy cái nhìn khái quát về những điểm cần cải thiện trong chương trình giảng dạy văn hóa của nhà trường cũng như những mong muốn của sinh viên. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày kết quả của nghiên cứu , điều tra để xác định mức độ hiểu biết, ý thức về văn hóa Nhật Bản của sinh viên ngành Sư phạm Nhật tại Trường Đại học Hải Phòng. Kết quả của nghiên cứu sẽ được trình bày thông qua các số liệu thống kê và phân tích chi tiết. Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao nhận thức của sinh viên ngành Sƣ phạm Nhật tại Trƣờng Đại học Hải Phòng về văn hóa Nhật Bản.
Sau khi phân tích và đánh giá về tình trạng hiểu biết văn hóa Nhật của sinh viên ngành Sư phạm Nhật tại Trường Đại học Hải Phòng, chương 3 tác giả sẽ đưa ra các 14 biện pháp cụ thể. Đưa ra các đề xuất dựa trên các phát hiện từ nghiên cứu, bao gồm việc tích hợp nội dung văn hóa vào chương trình học, tổ chức các hoạt động ngoại khóa liên quan đến văn hóa Nhật Bản, và sử dụng các công cụ và phương pháp giảng dạy phù hợp. Mục tiêu của chương này là đề xuất những biện pháp cụ thể và thiết thực để cải thiện nhận thức văn hóa của sinh viên Trường Đại học Hải Phòng, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và đa dạng về văn hóa cho sinh viên trong ngành Sư phạm Nhật. 15 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC VỀ VĂN HÓA NHẬT BẢN TRONG NGÀNH SƢ PHẠM NHẬT 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. hái niệm về nhận thức Lý luận nhận thức được coi là học thuyết về khả năng nhận thức của con người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức, con đường và phương pháp nhận thức. Hiện nay, vấn đề nhận thức, đặc biệt là nhận thức khoa học vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển nhằm giúp con người càng hoàn thiện hơn khả năng nhận thức của mình trong việc hình thành bức tranh chung của thế giới hiện thực và tiến gần đến chân lý. Nhận thức (Awareness) là trạng thái có ý thức về một cái gì đó.
Cụ thể hơn, đó là khả năng biết và nhận thức trực tiếp, cảm nhận hoặc nhận thức được các sự kiện. Một định nghĩa khác mô tả nó như một trạng thái trong đó một chủ thể nhận thức được một số thông tin khi thông tin đó có sẵn trực tiếp để đưa ra định hướng cho một loạt các hành động hành vi.17 Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, hành động). Nó có quan hệ mật thiết với hai mặt kia nhưng có điểm khác biệt về đối tượng, tính chất, nội dung, phương thức phản ánh và sản phẩm. Có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm nhận thức.
Cụ thể: Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. 18 17 Daniel C Dennett (1993), Consciousness Explained, Penguin 18 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (1996), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa 16 Theo “Từ điển Giáo dục học”: “Nhận thức là quá trình và kết quả phản ánh, tái tạo thực tiễn vào trong tư duy của con người” và “.sự tác động qua lại giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính làm cho nhận thức của con người càng chính xác hơn về đối tượng, càng tiến gần hơn chân lý khách quan”.19 Theo Nicky Hayes, “Nền tảng tâm lý học”: “Nhận thức là tất cả cách hiểu thông tin tiếp nhận qua các giác quan của cơ thể”. Feldman, “Những điều trọng yếu trong tâm lý học”: “Nhận thức là quá trình tinh thần bậc cao qua đó chúng ta hiểu thế giới, xử lý thông tin, phán đoán, quyết định, và chia sẻ hiểu biết với người khác”.21 Xuất phát từ cách tiếp cận hoạt động liên quan đến các hiện tượng tâm lý của các nhà tâm lý Xô viết cũ, các nhà tâm lý học Việt Nam đã đưa ra các khái niệm nhận thức đa phần là tương đồng nhau.
Trong sách “Tâm lý học” đưa ra rằng “Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình”.22 Nhận thức khoa học không chỉ có cấu trúc phức tạp mà còn có những đặc trưng riêng so với nhận thức thông thường và được thể hiện ở các dấu hiệu sau: Thứ nhất: Mang tính khách quan, thông qua một quá trình được định hướng tự giác, tích cực, sáng tạo nhằm tiếp cận chân lý. Thứ hai: Mang tính hệ thống, có luận cứu và sự sáng tạo tri thức khoa học Thứ ba: Luôn đòi hỏi yêu cầu cao về tính trừu tượng, khái quát và cụ thể hóa. Thứ t : Yêu cầu cao trong sử dụng ngôn ngữ, phương pháp và phương tiện. 19 Nguyễn Văn Giao - Nguyễn Hữu Quỳnh - Vũ Văn Tảo - Bùi Hiền, (2001), Từ điển Giáo dục học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội 20 Nicky Hayes (2005), Nền tảng tâm lý học, NXB Lao Động 21 Robert S.
Feldman (2003), Những điều trọng yếu trong tâm lý học, NXB Thống kê. 22 Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy (1988), Tâm lý học, Nxb Giáo dục. 17 Thứ năm: Có mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn và thực nghiệm 23 24. Với những cách tiếp cận về khái niệm nhận thức ở trên, theo theo tác giả có thể hiểu: Nhận thức là trạng thái hoặc khả năng nhận thức, cảm nhận hoặc ý thức về các sự kiện, đối tượng hoặc các mẫu cảm giác.
Ở cấp độ ý thức này, dữ liệu cảm giác có thể được xác nhận bởi một người quan sát mà không nhất thiết phải hiểu. Nhận thức là phẩm chất hoặc trạng thái nhận thức, là kiến thức và sự hiểu biết rằng điều gì đó đang xảy ra hoặc tồn tại. Nâng cao nhận thức là một quá trình tìm cách thông báo và giáo dục mọi người về một chủ đề hoặc vấn đề với mục đích tác động đến thái độ, hành vi và niềm tin của họ đối với việc đạt được mục đích hoặc mục tiêu đã xác định. Chính vì vậy, hoạt động dạy học và giáo dục là nhằm cho đối tượng nhận thức thực tiễn khách quan, hiểu bản chất và quy luật phát triển của sự vật hiện tượng, và giúp họ nắm được phương pháp nhận thức để tiếp tục khám phá, tìm hiểu thực tiễn hướng đến việc làm phong phú nhận thức của con người trong việc cảo tạo hiện thực và bản thân.
Trong thực tế, về mặt lý luận người ta thường ít vận dụng các mức độ của quá trình nhận thức gồm giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính ở trên trong nghiên cứu hay đánh giá kết quả học tập của người học. Hiện nay, ở Việt Nam, người ta vận dụng thang đo các mức độ nhận thức của Bloom để đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng như trong nghiên cứu khoa học khi nghiên cứu các đề tài đề cập đến mức độ nhận thức. Thang nhận thức của Bloom có sáu cấp độ là nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Có thể khái quát nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục – lĩnh vực nhận thức theo Bloom như sau: (1) Nhận biết (mức Biết) 23 10 Characteristics of Scientific Knowledge/Research, https://bscholarly.com/characteristics-of-scientific-knowledge/, truy cập 28/09/2024 24 Top 9 Main Characteristics of Science – Explained!, https://www.com/science/top-9-main-characteristics- of-science-explained/35060, truy cập 28/09/2024 18 Mức này được thể hiện ở chỗ người học nhớ các khái niệm cơ bản của môn học hay vấn đề nào đó, có thể nêu lên hoặc nhận ra chúng khi được yêu cầu.
Mức này được thể hiện: Biết các tri thức bộ phận. Biết các thuật ngữ. Biết các sự kiện riêng lẻ. Biết cách thức và phương tiện tiếp cận với các tri thức riêng lẻ: Tri thức về các quy ước Tri thức về các khuynh hướng và tính nhất quán Tri thức về cách phân loại và các phạm trù Tri thức về các tiêu chuẩn Tri thức về phương pháp luận Tri thức về cái tổng quát và trừu tượng trong một lĩnh vực Tri thức về các nguyên tắc và khái quát hóa Tri thức về các lý thuyết và cấu trúc (2) Thông hiểu (mức Hiểu) Mức này được đánh dấu bởi việc người học hiểu các khái niệm của môn học hay vấn đề nào đó và có thể vận dụng chúng khi chúng được thể hiện theo các cách tương tự như cách giáo viên đã giảng dạy hoặc theo các ví dụ tiêu biểu về các khái niệm đó.
Mức này được thể hiện ở khả năng: Chuyển dịch Nội suy Ngoại suy (3) Áp dụng (mức Vận dụng) Mức này thể hiện ở việc người học sử dụng các khái niệm trừu tượng trong các hoàn cảnh riêng biệt hay cụ thể. Các khái niệm trừu tượng ở dạng: Các tư tưởng khái quát 19 Các phương pháp được khái quát hóa Các nguyên tắc Các ý tưởng và lý thuyết kỹ thuật phải nhớ và vận dụng (4) Phân tích: Là khả năng phân tách toàn thể các bộ phận cấu thành, xác định các mối quan hệ giữa các bộ phận, nhận biết được nguyên lý, cấu trúc của các bộ phận. Đây là mức độ cao hơn mức vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu về cả nội dung lẫn kết cấu của tài liệu.